CHƯƠNG 1. Giới thiệu Năm 1984, một nhóm các nhà khoa học Nhật Bản đã phát minh ra được một loại vật liệu composite thế hệ mới. Đó là vật liệu có tính biến thiên hay còn gọi là vật liệu biến đổi chức năng Functionaly Graded Materials (FGM) (Hình 1. Là một dạng composite nhưng các thành phần của FGM (Thép, Mg2Si, gốm, Ni, Cr, Co, Al…) được pha trộn sao cho các tính chất cơ lý của nó biến đổi theo chiều dày của kết cấu để phù hợp với các yêu cầu cụ thể của người sử dụng.
Với đặc tính đó vật liệu FGM ra đời để khắc phục những hạn chế của vật liệu composite truyền thống như làm giảm ứng suất tập trung, hạn chế xuất hiện vết nứt và sự bong tách của vật liệu trong môi trường nhiệt độ cao. Đặc tính kháng nhiệt, cách âm nổi bậc của vật liệu này là lý do để lựa chọn sử dụng trong những kết cấu làm việc ở nhiệt độ cao, chịu sự truyền nhiệt lớn như thiết kế các công trình hàng không vũ trụ (khung, dầm máy bay, vỏ cabin….), trong ngành luyện kim, công nghiệp tàu thủy, ô tô, cơ khí, trong lò phản ứng nhà máy điện nguyên tử và trong ngành công nghiệp xây dựng (xà dầm, khung cửa, vòm che, mái che…)… Trong luận văn này, sử dụng phương pháp phần tử chuyển động (Moving Element Method-MEM) (Hình 1. Phương pháp này có những thuận lợi sau: tải di động sẽ không bao giờ đến biên vì phần tử được đề xuất luôn chuyển động. Điểm thuận lợi thứ hai là tải di động sẽ không phải chạy từ phần tử này đến phần tử khác, do đó tránh được việc cập nhật véctơ tải trọng.
Điểm thuận lợi thứ ba là phương pháp này cho phép phần tử hữu hạn có kích thước không bằng nhau và điều này có thể hữu ích khi các tải tác dụng tại các điểm tùy ý. Tổng quan 2 Hình 1. Mô hình vật liệu FGM (https://www.vn/search?biw=1366&bih=613&tbm=isch&sa=1&q=Fun ctionally+graded+material+FGM&oq=Functionally+graded+material+FGM&gs_l= psy-ab.w2JgGi03cXw#imgrc=bBqFtFQmTlHy2M: ) Hình 1. Mô hình phần tử hữu hạn FEM trên nền đàn nhớt Tổng quan 3 Hình 1.
Mô hình tải trọng cố định và tấm chuyển động (MEM) 1. Tính cấp thiết của đề tài 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới: Vật liệu chức năng (Functionaly Graded Materials) được nhóm các nhà khoa học ở viện Sendai của Nhật Bản phát minh lần đầu tiên vào năm 1984. Từ sau những năm 1984 có rất nhiều nghiên cứu để phát triển vật liệu FGM, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào ba quy luật phân bố thể tích chính của vật liệu FGM là quy luật lũy thừa Power-Law (P-FGM), quy luật hàm e mũ (E-FGM) và quy luật hàm Sigmoid (S- FGM).
Một số công trình nghiên cứu có thể kể đến như: Yang and Munz (1996) phân tích tấm P-FGM bằng phương pháp biến đổi Mellin và phương pháp phần tử hữu hạn (FEM), qua đó tính toán ứng suất của tấm P-FGM tại các nút có xem xét đến ảnh hưởng của bề dày tấm. Cũng với FEM, Reddy (1998) đã nghiên cứu và phát triển thêm các công thức lý thuyết và tính toán tấm vật liệu chức năng FGM, đưa ra các ứng dụng quan trọng của vật liệu chức năng, phân tích ứng xử tĩnh và động của tấm FGM, có kể đến biến dạng cắt ngang và moment quán tính. Sau đó Reddy (2000) tiếp tục sử dụng FEM kết hợp lời giải Navier, lý thuyết biến dạng cắt bậc cao (HSDT) và lý thuyết Von-Karman để phân tích đưa ra các kết quả số độ võng và ứng suất của tấm FGM hình chữ nhật. Woo and Meguid (2001) sử dụng lý thuyết Von-Karman cho biến dạng lớn để tìm lời giải giải tích cho tấm và vỏ chịu tải trọng cơ học của tấm P-FGM.
Jin and Paulino (2001) phân tích vết nứt của tấm P-FGM dưới các điều kiện tải trọng khác nhau với giả thiết hệ số Poisson là hằng số Tổng quan 4 và sử dụng biến đổi Laplace để giải. Vel and Batra (2002) đã nghiên cứu và đưa ra lời giải chính xác biến dạng ba chiều cho tấm P-FGM vuông tựa đơn bốn cạnh, chịu tải trọng cơ học và ảnh hưởng của nhiệt độ bằng phương pháp Mori-Tanaka. Phương pháp này được áp dụng cho cả tấm mỏng và tấm dày. Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả cho thấy ảnh hưởng của bề dày, tỷ lệ thể tích và các thành phần vật liệu của tấm đến ứng xử của tấm FGM.
Ferreira et al. (2005) đã khảo sát ứng xử tĩnh của tấm P-FGM bốn cạnh tựa đơn dựa trên lý thuyết lý thuyết biến dạng cắt bậc cao. Từ đó đưa ra các kết quả chuyển vị của tấm để đánh giá ảnh hưởng của hệ số tỷ lệ thể tích cũng như hệ số Poisson đến kết quả chuyển vị. Chi and Chung (2006) đã tính toán tấm vuông FGM có bề dày trung bình, 4 biên tựa đơn với các quy luật phân bố thể tích của tấm khác nhau dựa trên lý thuyết tấm cổ điển và phương pháp biến đổi Fourier.
Uymaz and Aydogdu (2007) đã tính toán tấm FGM hình vuông với các điều kiện biên khác nhau, sử dụng phương pháp Ritz và công thức chuyển vị Chebyshev. Oyekoya et al. (2008) nghiên cứu tấm vật liệu chức năng FGM theo lý thuyết tấm Mindlin và phép cầu phương Gauss. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có thể tối ưu hóa kết cấu tấm vật liệu chức năng thông qua cấu trúc của vật liệu tấm có cơ tính biến thiên.
Saha and Maiti (2012) đã phân tích tấm FGM chữ nhật tựa đơn và so sánh các kết quả của các loại tấm FGM khác nhau khi sử dụng các lý thuyết biến dạng cắt bậc cao và lý thuyết tấm cổ điển, hệ số Poisson được coi là hằng số còn module đàn hồi E thay đổi theo chiều dày tấm. Kiani et al., (2012) đã phân tích tĩnh học, dao động tự do, phân tích phản ứng động của tấm FGM chữ nhật trên nền Pasternak. Các công thức lý thuyết được tác giả xây dựng dựa trên lý thuyết biến dạng cắt bậc nhất (FSDT) và lý thuyết của vỏ của Sanders đồng thời sử dụng lời giải Navier và biến đổi Laplace để giải. Daouadji et al.
(2012) đã nghiên cứu ứng xử tĩnh và động của tấm Metal–Ceramic FGM bằng lời giải Navier dựa trên lý thuyết biến dạng cắt bậc cao. DuyHien and Noh (2013) thực hiên phân tích ứng xử động của tấm FGM chữ nhật chịu tải trọng di động bằng lý thuyết biến dạng cắt bậc cao và sử dụng các phương trình chuyển động theo nguyên lý Hamilton, đồng thời có xét đến ảnh hưởng của tham số vật liệu đến kết quả tính toán. Sobhy and Zenkour (2015) đã phân tích tấm Sandwich-FGM ba lớp trên nền Pasternak và khảo sát ảnh Tổng quan 5 hưởng của các ảnh hưởng của các thông số như thời gian, hệ số tỷ lệ thể tích, nhiệt độ đến ứng xử động của tấm. Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu ứng xử của tấm FGM ngày một phát triển mạnh và tập trung phân tích tính chịu uốn, xoắn, ổn định và ứng xử động của tấm.
Rất nhiều phương pháp đã được sử dụng để giải các bài toán, trong đó có phương pháp FEM được sử dụng rất nhiều. Talha and Singh (2010) đã nghiên cứu ứng xử tĩnh và dao động tự do của tấm FGM với các điều kiện biên khác nhau, sử dụng lý thuyết biến dạng cắt bậc cao và phương pháp phần tử hữu hạn sử dụng phần tử đẳng tham số 9 nút (FEM-9) để tính toán chuyển vị và tần số dao động của tấm. Các kết quả tác giả đưa ra đã cho thấy ảnh hưởng của các thông số như bề dày, tỷ lệ các cạnh, hệ số tỉ lệ thể tích, điều kiện biên… đến chuyển vị tĩnh và tần số dao động tự do của tấm. Singha et al.
(2011) đã sử dụng FEM để phân tích phi tuyến ứng xử tĩnh và dao động tự do tấm P-FGM. Ứng xử của tấm được xây dựng dựa trên lý thuyết biến dạng bậc nhất. Các công thức phi tuyến thu được bằng FEM và giải bằng phương pháp lặp Newton–Raphson. Gần đây có Bhandari and Purohit (2014) phân tích tấm FGM được mô hình 3D bằng phần mềm ANSYS.
Nghiên cứu đã thay đổi các tham số vật liệu và các điều kiện biên sau đó đưa ra các kết quả độ võng tấm. Kết quả nghiên cứu được tối ưu bằng cách thay đổi kích thước lưới chia, đồng thời so sánh với kết quả của tấm khi hàm tỷ lệ thể tích thay đổi. Ramu and Mohanty (2014) đã phân tích tấm P-FGM bằng FEM sử dụng phần mềm MATLAB để lập trình tính toán, đưa ra các kết quả quan trọng về tấm FGM như dao động tự nhiên trong các điều kiện biên khác nhau. Liu et al.
(2015) đã phân tích nứt trên tấm FGM sử dụng FEM, phần tử tam giác ba nút và lý thuyết tấm dày Reissner-Mindlin. Kết quả số đã chỉ ra các kết luận về vết nứt trên tấm FGM và các kết luận về ảnh hưởng của vật liệu lên vết nứt. Phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) được sử dụng rộng rãi để phân tích ứng xử của tấm trên nền đàn nhớt. Tuy nhiên trong các bài toán khảo sát ứng xử của kết cấu có chiều dài vô hạn chịu tải trọng di động, phương pháp FEM gặp phải khó khăn khi tải trọng tiến đến gần biên của miền hữu hạn phần tử và di chuyển vượt ra ngoài biên.
Do đó Koh et al. (2003) đã đề xuất sử dụng phương pháp phần tử Tổng quan 6 chuyển động (MEM) trong việc khảo sát ứng xử động của tàu cao tốc. Mô hình của Koh đã giải quyết những khó khăn của phương pháp FEM như tải sẽ không bao giờ chạy tới biên hữu hạn của phần tử do phần tử luôn chuyển động, tránh phải cập nhật véctơ tải trọng khi tải trọng di chuyển từ phần này sang phần tử khác và cho phép các phần tử hữu hạn có kích thước không bằng nhau. Nghiên cứu này đã cho thấy phương pháp MEM là phương pháp thích hợp nhất để phân tích bài toán động học cho các kết cấu chịu tải trọng động.
Sau khi được ứng dụng thì phương pháp MEM càng tỏ ra hữu dụng và ngày càng được phát triển. Koh et al. (2007) đã khảo sát dao động của nền bán không gian đàn hồi bằng phương pháp MEM. Gần đây nhất, Xu et al.
(2009) sử dụng phương pháp MEM để phân tích dao động ngẫu nhiên của tấm Kirchhoff trên nền Kelvin chịu tải trọng di động sử dụng phần tử tứ giác. ANG et al. (2013) đã khảo sát đến dao động của đường ray trong khoảng thời gian tăng tốc và giảm tốc của tàu cao tốc trên nền 2 thông số. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp MEM trong việc khảo sát ứng xử động của tàu cao tốc.
Tran et al.