Tổng quan luận án
Trong thực hành tính toán và thiết kế kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp hiện nay, kết cấu khung bê tông cốt thép có tường xây chèn (gọi tắt là khung chèn) thường được thiết kế theo quan điểm xem tường xây chèn chỉ là tải trọng tác dụng thuần túy và bỏ qua hoàn toàn độ cứng trong mặt phẳng của tường. Quan điểm tính toán này bắt nguồn từ nhận định cho rằng tường xây chèn có độ bền thấp hơn rất nhiều so với hệ khung bê tông cốt thép xung quanh (khối xây bằng gạch đất sét truyền thống có cường độ chịu nén khoảng 5–7,5 MPa so với bê tông thường có cường độ chịu nén tối thiểu 20 MPa), khó kiểm soát đồng đều chất lượng vật liệu và tay nghề nhân công trong quá trình thi công xây dựng, từ đó được xem là giải pháp thiên về an toàn cho hệ chịu lực.
Tuy nhiên, các quan sát thực tế và nghiên cứu khoa học cho thấy quan điểm bỏ qua độ cứng của tường xây chèn tồn tại khoảng trống kỹ thuật lớn:
- Việc bỏ qua độ cứng trong mặt phẳng của tường xây chèn dẫn đến sai số đáng kể trong việc xác định chu kỳ dao động riêng của công trình, làm sai lệch phân bố nội lực thực tế giữa các cấu kiện cột, dầm và gây lãng phí chi phí đầu tư xây dựng, đặc biệt tại các công trình có mật độ tường xây chèn lớn như khối nhà chung cư, bệnh viện, trường học.
- Luận án chứng minh rằng trong nhiều trường hợp chịu tác động của tải trọng ngang (tải trọng gió, động đất), việc không xét đến độ cứng của tường xây chèn không thực sự an toàn như giả định, thậm chí còn gây nguy hiểm cục bộ cho các cấu kiện cột khung do hiện tượng tập trung ứng suất, hiệu ứng cột ngắn hoặc hình thành cơ chế tầng mềm (soft-story).
- Xu hướng sử dụng vật liệu xây dựng mới chưa nung, thân thiện môi trường đòi hỏi phải làm rõ ứng xử cơ học của tường xây chèn sử dụng gạch bê tông khí chưng áp (AAC - Autoclaved Aerated Concrete) khi làm việc đồng thời cùng khung bê tông cốt thép.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Nghiên cứu ứng xử của khung bê tông cốt thép có tường xây chèn bằng gạch bê tông khí chưng áp (AAC) dưới tác động của tải trọng ngang.
- Xác định các điều kiện và giới hạn cần thiết để kể đến ảnh hưởng độ cứng của tường xây chèn trong tính toán, thiết kế kết cấu khung nhà chịu lực nhằm đảm bảo an toàn và tối ưu hóa chi phí đầu tư xây dựng công trình.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 4 nội dung cụ thể:
- Thiết lập công thức quy đổi tường xây chèn thành thanh chéo tương đương dùng trong mô phỏng kết cấu khung chèn ở giai đoạn đàn hồi và đề xuất mô hình phân tích ứng xử của khung chèn trong giai đoạn sau đàn hồi.
- Tiến hành nghiên cứu thực nghiệm kiểm chứng độ tin cậy của các mô hình và công thức đề xuất trên các mẫu khung bê tông cốt thép tỷ lệ lớn (1/2) với các điều kiện biên tiếp xúc khác nhau.
- So sánh khả năng chịu tải trọng ngang, cơ chế biến dạng và mức độ tiêu tán năng lượng giữa các mô hình thực nghiệm khung có tường xây chèn với nhau và với khung không chèn (khung trần).
- Thực hiện các ví dụ tính toán thiết kế khung bê tông cốt thép có xét đến độ cứng của tường xây chèn trong giai đoạn đàn hồi và sau đàn hồi để so sánh nội lực, chu kỳ dao động và đường cong khả năng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Dạng nhà khung bê tông cốt thép có tường xây chèn chịu tác động của tải trọng ngang (tải trọng gió, động đất).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn chiều cao công trình hoặc số tầng sao cho độ cứng kháng uốn của khung bê tông cốt thép không quá lớn so với độ cứng trong mặt phẳng của tường nhằm kiểm soát trình tự phá hủy và phát huy hiệu quả làm việc kết hợp.
- Tường xây chèn bằng gạch bê tông khí chưng áp (AAC) đặc, không xét các lỗ mở cửa sổ, cửa đi hay lỗ kỹ thuật (tương ứng với các mảng tường ngăn, tường phân chia căn hộ trong thực tế).
- Trục hình học của khung bê tông cốt thép trùng với trục tường xây chèn trong mặt phẳng khung.
- Chưa xét đến lực ma sát trượt tiếp xúc giữa tường xây chèn và khung bê tông cốt thép do ứng xử thực nghiệm chủ đạo là biến dạng ép chặt hoặc tách rời cục bộ giữa hai cấu kiện.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Kết cấu khung có tường xây chèn bắt đầu được nghiên cứu hệ thống từ nửa cuối thế kỷ XX. Tác giả luận án điểm lại các hướng nghiên cứu chính theo trình tự phát triển lịch sử và phân loại mô hình:
- Mô hình thanh chéo tương đương trong giai đoạn đàn hồi:
- S. V. Polyakov (1960) [1] là người khởi xướng việc quy đổi tường xây chèn thành một thanh chéo tương đương chịu nén thuần túy nối giữa điểm đặt lực và góc đối diện, dựa trên các giả thiết: tường xây chèn đồng nhất và đẳng hướng, nút khung cứng không biến dạng, tường và khung tiếp xúc kín khít cả 4 mặt. Công thức thực nghiệm của Polyakov đã được tích hợp vào tiêu chuẩn Liên Xô trước đây (SNiP-II-A.12-62).
- B. S. Smith và C. Carter (1969) [3] phát triển lý thuyết dầm trên nền đàn hồi Winkler (xem cột và dầm là dầm, tường xây chèn là nền đàn hồi) để xác định bề rộng hiệu dụng $W_0$ của dải tường chịu nén thông qua các thông số độ cứng tương đối $\lambda_h$ và $\lambda_l$. Mô hình này được đưa vào tiêu chuẩn Canada (CSA S304.1-2004) [4].
- R. J. Mainstone (1971, 1974) [5] hoàn thiện công thức xác định bề rộng thanh chéo chịu nén tương đương $W_{ds}$ dựa trên số lượng mẫu thực nghiệm đa dạng, trong đó chỉ giữ lại thông số $\lambda_h$ của cột và bỏ qua độ cứng kháng uốn của dầm. Công thức của Mainstone được quy định trong tài liệu FEMA 356-2000 [6] của Hoa Kỳ.
- T. C. Liauw và K. H. Kwan (1984) [7] sử dụng khai triển chuỗi Fourier của hàm ứng suất phẳng Airy kết hợp thực nghiệm để đưa ra công thức bề rộng thanh chéo tương đương phụ thuộc vào góc nghiêng $\theta$ và thông số $\lambda_h$.
- Các tác giả khác như M. Holmes (1961) [8], T. Paulay và M. J. N. Priestley (1992) [9] ($W_{ds} = d/4$), F. Y. Cheng (1995) [10], cùng các quy định trong Eurocode 8 (1998) [14] ($W_w = 0,15d$) và MSJC-2010 [15].
- Mô hình phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH):
- D. V. Mallick và R. T. Severn (1967) [2] lần đầu đề xuất giải bài toán khung chèn bằng PTHH với hàm ứng suất đa thức bậc cao, song mô hình giả thiết dính bám hoàn toàn nên chưa phản ánh được hiện tượng tách rời tiếp xúc giữa khung và tường khi chịu lực lớn.
- P. G. Asteris (2003) [11] phát triển mô hình phần tử tiếp xúc ("Method of Contact Points") giải quyết việc tách biên tiếp xúc giữa khung và tường xây chèn bằng cách giải phóng nút liên kết khi xuất hiện ứng suất kéo.
- Các nghiên cứu trong nước:
- Hồ Anh Tuấn (1977) [12] nghiên cứu sơ đồ khung giằng với vách cứng bằng khung bê tông cốt thép chèn gạch chịu tải trọng ngang, áp dụng công thức Polyakov và phương pháp phân phối mômen Kani.
- Lý Trần Cường (1991) [13] nghiên cứu sự làm việc đồng thời của khung bê tông cốt thép với khối xây chèn chịu tải trọng ngang, đề xuất công thức tính chiều dài tiếp xúc $l_b, h_c$ và hệ số nền $k_0$.
- Mô hình ứng xử sau đàn hồi:
- C. Z. Chrysostomou và cộng sự (2002) [16], M. Crisafulli và A. J. Carr (2007) [16a] đề xuất mô hình 3 thanh chéo tương đương.
- E. Smyrou và cộng sự (2011) [16b] phát triển mô hình thanh chéo nén - kéo kết hợp nút ảo (dummy node) và lò xo phi tuyến tại tâm tường để mô phỏng biến dạng cắt và kéo.
- L. F. Ibarra và cộng sự (2005) [17], H. Rodrigues và cộng sự (2010) [18] xây dựng các mô hình thoái hóa độ cứng tam tuyến tính và đa tuyến tính cho phân tích phi tuyến tĩnh và động.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước đây đều dựa trên giả định tường xây chèn tiếp xúc kín khít 4 cạnh với khung bê tông cốt thép bao quanh (tường xây chèn đầy đủ). Trong thực tế thi công, mặt tiếp xúc trên cùng giữa đỉnh tường và đáy dầm hầu như luôn tồn tại khe hở thi công 20–30 mm do khó chèn khít vữa, dù bên ngoài được trát phủ vữa (tường xây chèn không đầy đủ). Đồng thời, chưa có công thức giải tích xác định tiết diện thay đổi của thanh chéo tương đương xét đến trường hợp tường tiếp xúc 3 mặt, chưa có mô hình tích hợp khe hở cơ học vào phân tích đẩy dần phi tuyến (Pushover) và thiếu các số liệu thực nghiệm quy mô lớn đối với vật liệu gạch bê tông khí chưng áp (AAC) tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu lý thuyết cơ học kết cấu, mô phỏng số thông qua phần tử vĩ mô (Macro element) và phương pháp thực nghiệm kiểm chứng quy mô lớn:
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết dầm trên nền đàn hồi Winkler: Luận án rời rạc hệ khung phẳng thành các phần tử thanh cột và dầm tựa trên nền đàn hồi là khối xây chèn có hệ số nền $k_0$. Phương trình vi phân tổng quát biểu diễn đường đàn hồi của thanh có dạng: $$y^{IV}(x) + 4m^4 y(x) = 0 \quad \text{với} \quad m = \sqrt[4]{\frac{k_0 \cdot t}{4 E J}}$$ Trong đó $t$ là chiều dày tường chèn, $E$ và $J$ lần lượt là môđun đàn hồi và mômen quán tính của cấu kiện khung (cột hoặc dầm).
- Mô hình thanh chéo tương đương 3 đoạn (giai đoạn đàn hồi): Thay vì sử dụng thanh chéo lăng trụ tiết diện không đổi, luận án xây dựng mô hình thanh chéo có tiết diện thay đổi gồm 3 đoạn (hai đoạn đầu có bề rộng $W_e$, đoạn giữa có bề rộng $W_m$) tương ứng với phân bố ứng suất nén cục bộ dạng hình thang ở hai đầu góc tường và dải nén ở giữa.
- Phân tích đẩy dần phi tuyến (Pushover analysis) và mô hình đa thanh chéo (Multi-strut): Phân tích ứng xử sau đàn hồi của khung chèn dựa trên việc gán khớp dẻo tập trung (Concentrated Plasticity Hinge) theo hướng dẫn của FEMA 356 (2000). Luận án đề xuất mô hình đa thanh chéo gồm các dải chéo sơ cấp và thứ cấp kết hợp phần tử tiếp xúc khe hở (Gap-element) nhằm mô phỏng hiện tượng mở khe nứt và suy giảm độ cứng khi chịu tải chu kỳ.
- Lý thuyết động lực học công trình và tiêu chuẩn thiết kế kháng chấn: Đánh giá phản ứng của khung chèn dưới tải trọng động đất theo TCXDVN 375:2006 thông qua hệ số ứng xử $q$, độ dẻo chuyển vị $\mu$ và giả thuyết cân bằng năng lượng của Blume.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Chế tạo mẫu: Chế tạo 7 mẫu khung bê tông cốt thép kích thước lớn tỷ lệ 1/2, kích thước thông thủy bên trong $1200 \times 1800$ mm, tiết diện cột $150 \times 150$ mm, tiết diện dầm $150 \times 200$ mm.
- Vật liệu chế tạo: Bê tông nặng cấp độ bền xác định qua ép mẫu lăng trụ ($f'_c$), cốt thép dọc ($f_y, f_u$), khối xây gạch bê tông khí chưng áp AAC (TCVN 7959-2011), vữa xây và vữa tô chuyên dụng.
- Thiết bị và quy trình gia tải: Sử dụng kích thủy lực tác động chu kỳ 2 chiều "Actuator model 7", hệ thống đo chuyển vị LVDT và hệ thống cảm biến điện trở biến dạng (Strain Gauge - SG) dán trên bê tông, cốt thép và khối xây. Quy trình thí nghiệm tuân thủ tiêu chuẩn ACI 374.1-05 và khuyến nghị ACI 374.2R-13.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu thực nghiệm thu được từ đề tài NCKH mã số TNCS-2013-KTXD-04 thực hiện tại Phòng Thí nghiệm Công trình - Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường Đại học Bách khoa - ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.
- Dữ liệu số học và phân tích PTHH trích xuất từ các phần mềm ANSYS và SAP2000 (phiên bản V15).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến khung có tường xây chèn
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm và các tiêu chuẩn thiết kế quốc tế liên quan đến hệ kết cấu khung chèn:
- Phân tích chi tiết các giả thiết và công thức xác định bề rộng thanh chéo tương đương của Polyakov (1960), Smith và Carter (1969), Mainstone (1971), Liauw và Kwan (1984), Paulay và Priestley (1992), Cheng (1995) cùng các tiêu chuẩn quốc tế:
| Tác giả / Tiêu chuẩn | Năm | Công thức xác định bề rộng thanh chéo ($W$) | Đặc điểm và tham số chính |
|---|---|---|---|
| Polyakov [1] | 1960 | $\Delta = \frac{2P}{l'.d} \left(\frac{h'}{t}\right)^2 \alpha_c$ | Tích hợp trong SNiP-II-A.12-62; tính qua biến dạng $\Delta$ |
| Smith và Carter [3] | 1969 | $W_0 = \sqrt{\alpha_h^2 + \alpha_l^2}$ | Tích hợp trong CSA S304.1-2004; phụ thuộc $\lambda_h$ và $\lambda_l$ |
| Mainstone [5] | 1971 | $W_{ds} = 0,175 (\lambda_h h)^{-0,4} \sqrt{l^2 + h^2}$ | Tích hợp trong FEMA 356-2000; chỉ phụ thuộc vào $\lambda_h$ của cột |
| Liauw và Kwan [7] | 1984 | $W_{ds} = \frac{0,95 h \cos\theta}{\sqrt{\lambda_h h}}$ | Thiết lập từ hàm ứng suất Airy; chỉ xét thông số cột $\lambda_h$ |
| Paulay & Priestley [9] | 1992 | $W_{ds} = d / 4$ | Công thức đơn giản hóa theo đường chéo $d$ |
| Eurocode 8 [14] | 1998 | $W_w = 0,15 d$ | Bề rộng thanh chéo lấy cố định bằng 15% chiều dài đường chéo |
- Đánh giá các mô hình phần tử hữu hạn vi mô (Micro) và vĩ mô (Macro), mô hình tiếp xúc điểm của Asteris (2003), các nghiên cứu của Hồ Anh Tuấn (1977), Lý Trần Cường (1991).
- Trình bày các mô hình ứng xử phi tuyến sau đàn hồi của Ibarra (tam tuyến tính), Rodrigues (đa tuyến tính), Chrysostomou và Smyrou.
- Nêu bật nhận xét thực tế về sự khác biệt giữa giả thiết "tường xây chèn đầy đủ" (tiếp xúc 4 mặt) và thực tế thi công "tường xây chèn không đầy đủ" (tồn tại khe hở 20–30 mm dưới đáy dầm trên), chỉ ra sự thiếu hụt nghiên cứu về tường xây chèn bằng gạch nhẹ AAC.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 2 trình bày các đóng góp lý thuyết cốt lõi của luận án:
- Thiết lập công thức thanh chéo tương đương 3 đoạn (giai đoạn đàn hồi):
- Rời rạc khung thành bài toán dầm trên nền đàn hồi Winkler. Thiết lập điều kiện biên cho cột (AB) và dầm (BC). Với giới hạn độ cứng $\lambda h \ge 3$ và $\lambda l \ge 3$ (thỏa mãn khi chiều cao tiết diện dầm, cột không quá 600 mm), thanh được giải theo sơ đồ bán vô hạn.
- Giải hệ phương trình vi phân tìm ra chiều dài đoạn tiếp xúc giữa cột với tường ($\alpha_h$) và giữa dầm với tường ($\alpha_l$): $$\alpha_h = \frac{1}{m} \arccos\left(\frac{C}{\sqrt{C^2 + 1}}\right)$$
- Với $C$ là hệ số đặc trưng phụ thuộc độ cứng của cột, dầm và hệ số nền khối xây.
- Thiết lập công thức xác định bề rộng đầu thanh ($W_{e,cm}, W_{e,icm}$) và bề rộng giữa thanh ($W_{m,cm}, W_{m,icm}$) cho cả hai trường hợp tường xây chèn đầy đủ và tường xây chèn không đầy đủ.
- Thiết lập mô hình đa thanh chéo (Multi-strut) cho giai đoạn sau đàn hồi:
- Mô hình gồm 3 dải nén song song: dải chéo chính truyền lực qua tâm và hai dải chéo phụ truyền lực vào nút/cạnh khung.
- Sử dụng liên kết Gap-element tại đầu thanh chéo để mô phỏng chính xác khe hở tiếp xúc $d$ và chiều dài khe hở $L_g$ đối với tường không đầy đủ.
- Đề xuất mô hình tường xây chèn cải tiến:
- Cấu tạo khe hở có chủ đích (bằng xốp chèn ban đầu) tại vị trí tiếp giáp giữa tường và cột nhằm kiểm soát cơ chế nứt, loại bỏ ứng suất tập trung cắt phá hoại đầu cột, tăng khả năng biến dạng dẻo của hệ kết cấu.
- Phương pháp phân tích tác động động đất:
- Xác định các tham số động lực học, hệ số giảm lực tác động $R$, hệ số ứng xử $q$ theo TCXDVN 375:2006, độ dẻo chuyển vị $\mu = \Delta_u / \Delta_y$ dựa trên quan hệ lực - chuyển vị và giả thuyết cân bằng năng lượng Blume.
Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm
Chương 3 trình bày chi tiết chương trình thực nghiệm trên 7 mẫu khung bê tông cốt thép tỷ lệ 1/2 nhằm kiểm chứng các giả thuyết và mô hình tính toán:
| Nhóm | Ký hiệu mẫu | Cấu tạo chi tiết mẫu khung thực nghiệm | Mục đích thử nghiệm |
|---|---|---|---|
| Nhóm I | K1-I | Khung BTCT có TXC đầy đủ (tiếp xúc 4 mặt), không có lớp tô | Đánh giá ứng xử cơ bản của tường tiếp xúc kín khít |
| (Không tô) | K2-I | Khung BTCT có TXC không đầy đủ (hở đỉnh 25 mm), không có lớp tô | Khảo sát thực tế thi công thiếu tiếp xúc với đáy dầm |
| K3-I | Khung BTCT có TXC cải tiến (khe hở cấu tạo ở cột), không tô | Đánh giá giải pháp giảm tập trung ứng suất góc | |
| Nhóm II | K1a-II | Khung BTCT có TXC đầy đủ, có lớp vữa tô dày 10 mm | Đánh giá ảnh hưởng tăng cường độ cứng của lớp trát |
| (Có tô) | K2a-II | Khung BTCT có TXC không đầy đủ, có lớp vữa tô dày 10 mm | Đánh giá khả năng làm việc liên kết thực tế phổ biến |
| K3a-II | Khung BTCT có TXC cải tiến, có lớp vữa tô dày 10 mm | Đánh giá khả năng chịu tải và tiêu tán năng lượng | |
| Nhóm III | K5-III | Khung BTCT không xây chèn (khung trần - bare frame) | Mẫu đối chứng xác định độ cứng và khả năng chịu lực |
Các phát hiện thực nghiệm quan trọng:
- Tường xây chèn bằng gạch nhẹ AAC tuy có cường độ nén khối xây thấp ($f_w \approx 2,5-3,5\text{ MPa}$) và xuất hiện vết nứt sớm ngay từ chu trình gia tải ban đầu, nhưng vẫn duy trì sự hỗ trợ chịu lực đáng kể cho khung bê tông cốt thép cho đến khi toàn bộ hệ bị phá hủy hoàn toàn.
- Lớp vữa tô chuyên dụng (Nhóm II) làm tăng đáng kể độ cứng ban đầu và khả năng chịu tải đỉnh ($P_{max}$) của hệ kết cấu so với nhóm không tô (Nhóm I).
- Mẫu tường cải tiến (K3-I, K3a-II) đã loại bỏ được dạng phá hoại vỡ giòn cục bộ ở các góc khung - tường, chuyển cơ chế phá hoại sang dạng trượt dẻo phân tán, giúp diện tích vòng lặp trễ mở rộng và gia tăng khả năng tiêu tán năng lượng tích lũy ($E_d$).
- So với khung trần K5-III, tất cả các mẫu khung có tường chèn đều có khả năng chịu tải ngang cực hạn cao hơn từ 1,8 đến gần 3 lần và độ cứng ban đầu lớn hơn rõ rệt.
Chương 4: Kiểm chứng mô hình và ví dụ tính toán
Chương 4 thực hiện so sánh kết quả số trị với dữ liệu thực nghiệm và triển khai tính toán công trình thực tế:
- Kiểm chứng mô hình giai đoạn đàn hồi:
- Ứng suất và nội lực tính toán từ mô hình thanh chéo tương đương 3 đoạn trên phần mềm ANSYS và SAP2000 phù hợp chặt chẽ với số liệu đo từ các cảm biến biến dạng (SG) và chuyển vị thực tế.
- Sai số nội lực giữa mô hình đề xuất và thực nghiệm đối với khung tường đầy đủ (K1-I, K1a-II) và không đầy đủ (K2-I, K2a-II) nằm trong giới hạn cho phép kỹ thuật ($< 10-15%$).
- Kiểm chứng mô hình giai đoạn sau đàn hồi:
- Mô hình đa thanh chéo (Multi-strut) kết hợp phần tử Gap-element trong SAP2000 mô phỏng chính xác đường cong quan hệ lực - chuyển vị đỉnh ($P - \text{drift}$) và giá trị lực ngang cực hạn $P_{max}$.
- Kết quả so sánh cho thấy mô hình đề xuất có độ chính xác cao hơn rõ rệt so với mô hình thanh chéo đơn truyền thống hay mô hình tam tuyến tính của Ibarra:
| Mẫu khung | Lực ngang $P_{max}$ thực nghiệm (kN) | Mô hình đề xuất (kN) | Mô hình thanh chéo đơn (kN) | Sai số mô hình đề xuất (%) |
|---|---|---|---|---|
| K1-I | 56,12 | 58,45 | 67,20 | +4,15% |
| K2-I | 44,30 | 45,80 | 58,60 | +3,38% |
| K1a-II | 76,50 | 73,20 | 89,10 | -4,31% |
| K2a-II | 62,80 | 60,10 | 75,40 | -4,29% |
- Ví dụ tính toán công trình thực tế:
- Áp dụng tính toán cho một khung phẳng trục 4 của công trình thực tế nhiều tầng nhiều nhịp chịu tác động đồng thời của tĩnh tải, hoạt tải, tải trọng gió và tải trọng động đất theo TCXDVN 375:2006.
- So sánh hai trường hợp: (1) Khung tính theo quan niệm truyền thống (bỏ qua độ cứng tường xây chèn) và (2) Khung có xét đến độ cứng của tường xây chèn bằng mô hình đề xuất.
- Kết quả cho thấy: Khi xét đến độ cứng của tường chèn, chu kỳ dao động riêng của công trình giảm đáng kể, dẫn đến lực động đất tác dụng tổng thể tăng lên. Phân bố mômen và lực cắt ở các cột tầng dưới thay đổi phức tạp; đặc biệt tại các vị trí tầng có bố trí gián đoạn tường xây chèn (tầng 1 trống để xe/kinh doanh, các tầng trên xây chèn kín), hiện tượng tập trung biến dạng gây ra hiệu ứng "tầng mềm" nguy hiểm mà mô hình truyền thống không thể phát hiện được.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn kỹ thuật như sau:
- Đóng góp mới về mặt khoa học lý thuyết:
- Xây dựng và đề xuất hoàn chỉnh công thức giải tích xác định tiết diện thay đổi (3 đoạn) của mô hình thanh chéo nén tương đương dùng trong giai đoạn đàn hồi, xét đến đầy đủ các điều kiện tiếp xúc thực tế giữa khung bê tông cốt thép và khối xây (cả trường hợp tiếp xúc kín khít 4 mặt và hở mặt tiếp xúc đỉnh dầm 3 mặt).
- Đề xuất mô hình đa thanh chéo (Multi-strut) chịu nén kết hợp phần tử tiếp xúc biến dạng một chiều (Gap-element) ứng dụng trong phân tích đẩy dần phi tuyến (Pushover), cho phép mô phỏng chính xác sự suy giảm độ cứng, sự mở khe nứt tiếp xúc và dự báo lực ngang cực hạn cùng đường cong quan hệ lực - chuyển vị của khung chèn trong giai đoạn sau đàn hồi.
- Đóng góp mới về mặt thực tiễn kỹ thuật:
- Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm hệ thống, tin cậy về ứng xử tĩnh lặp hai chiều của khung bê tông cốt thép kích thước lớn (tỷ lệ 1/2) có tường xây chèn bằng vật liệu gạch bê tông khí chưng áp (AAC) - loại vật liệu không nung, thân thiện môi trường đang được khuyến khích sử dụng thay thế gạch nung truyền thống.
- Đề xuất giải pháp cấu tạo "tường xây chèn cải tiến" có khe hở kỹ thuật ban đầu tại biên tiếp xúc với cột, giúp triệt tiêu hiện tượng tập trung ứng suất cắt nguy hiểm tại đầu và chân cột, giảm nứt vỡ giòn cục bộ và nâng cao năng lực tiêu tán năng lượng của toàn hệ kết cấu.
- Chứng minh rõ nét các sai số và nguy cơ mất an toàn tiềm ẩn của quan niệm thiết kế truyền thống (bỏ qua độ cứng tường xây chèn), đồng thời thiết lập phạm vi và biểu đồ giới hạn tương quan hình học giữa tiết diện dầm, cột để các kỹ sư kết cấu có thể kể đến độ cứng tường chèn một cách an toàn, góp phần tối ưu hóa chi phí vật liệu và đầu tư xây dựng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản luận án, các hạn chế và hướng phát triển tiếp theo được tác giả ghi nhận bao gồm:
-
Các hạn chế kỹ thuật:
- Luận án mới chỉ khảo sát ứng xử trong mặt phẳng khung (in-plane), chưa xét đến ảnh hưởng đồng thời của tải trọng ngang ngoài mặt phẳng khung (out-of-plane) tác dụng lên tường xây chèn.
- Các mẫu thực nghiệm và mô hình giải tích mới chỉ áp dụng cho mảng tường xây chèn đặc, chưa xét đến các mảng tường có lỗ mở kiến trúc như cửa sổ, cửa đi hoặc các hộp kỹ thuật thông tầng.
- Mô hình giải tích chưa tích hợp yếu tố lực ma sát trượt tiếp xúc giữa bề mặt khối xây và bề mặt bê tông của khung dầm, cột.
- Vật liệu nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào gạch bê tông khí chưng áp (AAC), chưa mở rộng so sánh đầy đủ trên cùng một quy trình thử nghiệm với các dòng gạch không nung khác (như gạch xi măng cốt liệu, gạch bê tông bọt).
-
Hướng nghiên cứu phát triển tiếp của đề tài:
- Mở rộng nghiên cứu ứng xử kết hợp đồng thời trong mặt phẳng và ngoài mặt phẳng của khung bê tông cốt thép có tường xây chèn gạch AAC.
- Phát triển công thức thanh chéo tương đương và mô hình đa thanh chéo cho các bức tường có lỗ mở với vị trí và tỷ lệ diện tích mở khác nhau.
- Nghiên cứu ứng xử động lực học trực tiếp của hệ khung chèn trên bàn rung mô phỏng động đất (Shaking Table Test) để đánh giá phản ứng thực tế theo miền thời gian.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng chuyên môn cao trong chuyên ngành Xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kỹ thuật Xây dựng:
- Chương 2 và Chương 3 là tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp giải tích dầm trên nền đàn hồi Winkler áp dụng cho bài toán tiếp xúc cơ học, cũng như quy trình thiết kế, chế tạo mẫu, bố trí cảm biến đo biến dạng (SG, LVDT) và vận hành thí nghiệm gia tải lặp tĩnh theo tiêu chuẩn ACI 374.
- Phụ lục 2 cung cấp số liệu thực nghiệm gốc về thí nghiệm xác định hệ số nền Winkler ($k_0$), góc truyền lực ($\theta$) và cường độ chịu nén của khối xây gạch AAC theo tiêu chuẩn ASTM E111-04, rất hữu ích cho các nghiên cứu mô phỏng số tiếp nối.
- Đối với kỹ sư thiết kế kết cấu công trình:
- Chương 4 cung cấp quy trình từng bước khai báo mô hình thanh chéo tương đương và phần tử Gap-element trên các phần mềm thông dụng như SAP2000 và ANSYS.
- Cảnh báo các nguy cơ mất an toàn thực tế khi bố trí tường chèn không liên tục giữa các tầng (hiện tượng tầng mềm), giúp kỹ sư đưa ra giải pháp cấu tạo hợp lý khi thiết kế kháng chấn cho công trình nhiều tầng có tường xây chèn.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao việc bỏ qua độ cứng của tường xây chèn trong thiết kế kết cấu khung bê tông cốt thép lại có thể gây nguy hiểm cho công trình?
Trả lời: Việc bỏ qua độ cứng của tường xây chèn làm sai lệch chu kỳ dao động riêng của công trình (thực tế chu kỳ ngắn hơn, dẫn đến tải trọng động đất tác dụng lên công trình lớn hơn so với tính toán). Ngoài ra, khi tường tiếp xúc với khung, ứng lực nén chéo tập trung rất lớn vào các góc tiếp xúc, gây ra lực cắt phụ lớn tại đầu cột và chân cột (hiệu ứng cột ngắn). Đặc biệt, nếu công trình có tầng trệt không xây chèn (làm sảnh hoặc gara) còn các tầng trên xây chèn dày đặc, độ cứng tầng trệt sẽ nhỏ hơn hẳn các tầng trên, hình thành cơ chế "tầng mềm" dễ dẫn đến sụp đổ tầng khi có động đất.
2. Tường xây chèn "không đầy đủ" trong luận án được định nghĩa như thế nào và khác gì so với tường "đầy đủ"?
Trả lời: Tường xây chèn đầy đủ là tường tiếp xúc kín khít cả 4 mặt với hai cột, dầm trên và dầm dưới. Tường xây chèn không đầy đủ là trường hợp tường tiếp xúc kín khít với hai cột và dầm dưới, nhưng tại mặt tiếp xúc đỉnh tường với đáy dầm trên tồn tại khe hở thi công (khoảng 20–30 mm) do hạn chế thi công chèn vữa. Mặc dù bên ngoài có lớp vữa trát che kín, nhưng về bản chất cơ học tường chỉ tiếp xúc chịu lực trên 3 mặt.
3. Mô hình thanh chéo tương đương 3 đoạn do luận án đề xuất có cấu tạo và ưu điểm gì so với mô hình thanh chéo đơn truyền thống?
Trả lời: Mô hình thanh chéo 3 đoạn có tiết diện thay đổi: hai đoạn đầu tiếp xúc với góc khung có bề rộng lớn hơn ($W_e$), đoạn thân ở giữa có bề rộng thu hẹp ($W_m$). Cấu tạo này phản ánh đúng trạng thái phân bố ứng suất nén cục bộ theo dạng hình thang ở hai đầu tiếp xúc và dải nén ở giữa, khắc phục được nhược điểm của thanh chéo đơn tiết diện không đổi vốn có xu hướng đánh giá quá cao độ cứng tổng thể của hệ kết cấu.
4. Giải pháp "tường xây chèn cải tiến" của luận án được cấu tạo như thế nào và mang lại hiệu quả gì?
Trả lời: Tường xây chèn cải tiến được bố trí các khe hở cấu tạo có chủ đích (sử dụng tấm đệm xốp mềm ban đầu) giữa cạnh tường và cột bê tông cốt thép. Cấu tạo này ngăn chặn việc truyền lực nén trực tiếp từ góc tường vào đầu cột trong giai đoạn đầu, hạn chế sự tập trung ứng suất gây phá hoại cắt giòn tại góc khung, giúp khối xây nứt trượt dẻo phân tán và làm tăng đáng kể khả năng tiêu tán năng lượng chu kỳ của công trình.
Kết luận
Luận án tiến sĩ kỹ thuật của tác giả Đinh Lê Khánh Quốc đã giải quyết thấu đáo bài toán tương tác phức tạp giữa khung bê tông cốt thép và tường xây chèn bằng gạch bê tông khí chưng áp (AAC) dưới tác động của tải trọng ngang. Thông qua việc kết hợp giữa lý thuyết dầm trên nền đàn hồi, các mô phỏng số vĩ mô và chương trình thực nghiệm quy mô lớn trên 7 mẫu khung tỷ lệ 1/2, luận án đã làm sáng tỏ cơ chế truyền lực, phân bố ứng suất và cơ chế phá hoại của hệ kết cấu trong cả giai đoạn đàn hồi lẫn sau đàn hồi. Các công thức thanh chéo tương đương 3 đoạn, mô hình đa thanh chéo kết hợp phần tử khe hở và giải pháp cấu tạo tường cải tiến là những đóng góp khoa học và thực tiễn quan trọng, giúp tối ưu hóa an toàn và kinh tế trong thiết kế công trình dân dụng và công nghiệp.