CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU 1. Khái niệm về đất yếu Đất yếu là những đất có khả năng chịu lực thấp (5 – 10 kN/m2), hầu như hoàn toàn bão hòa nước, có hệ số rỗng lớn (thường e >1), hệ số nén lún lớn (a tới phần mười hoặc vài ba đơn vị), module tổng biến dạng bé (E 500 kN/m2), trị số sức chống cắt không đáng kể. Đất yếu có thể là đất sét yếu, đất cát yếu, bùn, than bùn, đất hữu cơ, đất thải,…Đất yếu được tạo thành ở lục địa (tàn tích, sườn tích, lũ tích, lở tích, do gió, do lầy, do con người), ở vùng vịnh (cửa song, tam giác châu, vịnh biển) hoặc ở biển (khu vực nước nông, sâu không quá 200 mét, thềm lục địa sâu từ 200 – 3000 mét, biển sâu trên 3000 mét). Chiều dày lớp đất yếu có thể từ vài mét cho đến 35 – 40 mét Ở Việt Nam, đất yếu phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng.
Các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi gặp nhiều khó khăn khi xây dựng trên các vùng đất yếu. Vì vậy, khi xây dựng trên các vùng đất này phải có các biện pháp xử lý nền thích đáng để đảm bảo chất lượng công trình [1] 1. Các giải pháp xử lý nền và ưu nhược điểm Việc lực chọn các kỹ thuật xây dựng nền đắp trên đất yếu phụ thuộc vào: - Thời gian yêu cầu thi công cho các công trình - Biên độ các biến dạng cho phép khi đưa vào sử dụng - Những bó buộc về môi trường của dự án (phạm vi chiếm đất, sự nhạy cảm với chấn động, bảo vệ mực nước ngầm,…) - Những bó buộc về ngân sách 5 Các phương pháp xây dựng nền đắp trên đất yếu có thể được chia thành hai nhóm sau [2]: Nhóm 1: Bố trí xây dựng cùng nền đắp - Xây dựng theo giai đoạn - Bệ phản áp - Gia tải tạm thời - Tăng cường bằng vật liệu địa kỹ thuật - Nền đắp bằng vật liệu nhẹ Nhóm 2: Cải thiện đất dưới nền đắp - Thay đất xấu - Đường thấm thẳng đứng - Cố kết bằng hút chân không - Cột ba lát - Cột đất gia cố vôi hoặc xi măng - Cột vữa – xi măng đất - Nền đắp trên móng cứng - Điện thấm Các ưu điểm, nhược điểm và tính khả thi của các phương pháp trên được cho dưới sau đây Bảng 1. 1 Ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp khác nhau Giá Thời Tính khả thi Phương pháp xây dựng Tính kỹ thuật thành gian (dự báo) Tác dụng với nền đắp Xây dựng theo giai đoạn + +++ + + Bệ phản áp ++ ++ + +++ Gia tải tạm thời + +++ + ++ Tăng cường bằng vật liệu ++ + ++ ++ địa kỹ thuật Nền đắp bằng vật liệu nhẹ ++ + ++ +++ 6 Tác dụng đối với đất nền Thay đất xấu +++ + + +++ Đường thấm thẳng đứng ++ ++ ++ ++ Cố kết bằng hút chân không +++ ++ +++ ++ Cột ba lát +++ ++ +++ ++ Cột đất gia cố vôi hoặc xi măng +++ ++ +++ ++ Cột vữa – xi măng đất +++ ++ +++ ++ Nền đắp trên móng cứng +++ ++ ++ +++ Điện thấm +++ +++ +++ ++ Chú thích: + Kém; ++ Trung bình; +++ Tốt 1.
Một số phương pháp xử lý nền đất yếu 1. Phương pháp xử lý nền đất yếu bằng trụ đất xi măng/vôi [3] 1. Khái niệm chung Việc nghiên cứu ứng dụng trụ đất xi măng/ vôi nhằm nâng cao tính ổn định của nền đất yếu đã được nghiên cứu từ khá lâu ở các nước như Trung quốc, Thụy Điển, Nhật và Việt Nam,…Tuy nhiên, việc gia cố đất bằng vôi hóa sử dụng chủ yếu cho nền đường và đất trên mặt. Viện Địa Kỹ Thuật Thụy Điển đã áp dụng rộng rãi trụ vôi cho móng và công tác đất trong nền đất yếu.
Cuối những năm 1970 – 1982 Nhật đã dùng phương pháp hiện đại trộn vôi hay xi măng ngay trong đất. Phương pháp này được phát triên bắt đầu từ nhu cầu cải tạo đấy yếu cho các công trình cảng. Ngày nay, phương pháp này dùng cả cho móng các công trình trên mặt đất, nền đường, kho bãi, móng đê,…Ngày nay, với các thiết bị hiện đại đất có thể được cải tạo tới độ sâu 40 mét khi dùng phương pháp gia cường bằng trụ (cọc), và khoảng 5 mét khi cải tạo khối. 1 Mô hình xử lý nền bằng cọc đất xi măng.
Mục đích của phương pháp cải tạo sâu Phương pháp gia cường sâu các loại đất yếu nhằm các mục đích dưới đây Tăng độ bền của đất cần cải tạo nhằm: - Tăng độ ổn định của khối đất đắp - Tăng khả năng chịu tải - Giảm hoạt tải tác dụng lên tường chắn - Ngăn chặn hiện tượng hóa lỏng đất nền Cải tạo tính biến dạng của đất yếu để giảm độ lún của nền nhằm: - Giảm thời gian lún - Giảm chuyển vị ngang Tăng độ cứng động của đất yếu nhằm: - Giảm chấn động sang công trình xung quang - Cải thiện khả năng làm việc dưới tải trọng động của công trình Cải tạo các loại đất nhiễm bẩn nhằm: - Tạo ra một hang rào bảo vệ môi trường 8 - Tăng khả năng ổn định của đất nhiễm bẩn - Tạo ra một bức tường ngăn nước ngầm 1. Ứng dụng Phương pháp trụ đất xi măng/vôi có thể được áp dụng cho các loại đất yếu như đất sét, đất nhiễm thạch cao và bùn. Tuy nhiên, tính chất địa kỹ thuật và tính chất hóa học của đất có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của công tác gia cường, do vậy cần lựa chọn các chất kết dính sao cho phù hợp với từng loại đất. Phương pháp thi công Trụ đất xi măng/ vôi được thi công bằng cách trộn cơ học vôi hay xi măng với đất sét yếu ngay tại chổ.
Sự tăng độ bền, giảm tính biến dạng của đất yếu là kết quả của quá trình phản ứng trao đổi ion giữa đất với vôi hay xi măng. Có hai phương pháp thi công được chia thành hai loại là: phương pháp phun trộn khô và phương pháp phun trộn ướt Phương pháp phun trộn khô (DJMM – Dry Jet Mixing Method) Trong phương pháp này, bột xi măng hay bột vôi sống được phụt sâu vào trong đất thông qua ống khí nén, sau đó các loại bột này được trôn một cách cơ học nhờ thiết bị cánh quay. Trong phương pháp này không cho thêm nước vào trong đất do đó hiệu quả cải tạo đất sẽ cao hơn phương pháp phun vữa. Khi dùng vôi sống.
quá trình hydrat hóa (thủy phân) sẽ tạo ra một lượng nhiệt làm khô đất xung quanh và công tác cải tạo sẽ hiệu quả hơn Phương pháp phun trộn ướt (WJMM – Wet Jet Mixing Method) Phương pháp phun trộn ướt hay phương pháp phun trộn vữa. Vữa xi măng/vôi được phun vào đất sét nhờ áp lực bằng 20 kPa từ một vòi phun xoay. Phương pháp này thi công gọn nhẹ hơn phương pháp trộn khô. Tuy nhiên, phương pháp này thường cho cọc có tiết diện không đều vì sức chống cắt của đất thay đổi theo độ sâu trong khi áp lực phun không thay đổi 9 1.
Phương pháp cố kết bằng cách hút chân không [2] 1. Nguyên lý và tác dụng Đặt một màng mỏng kín trên mặt đất và bơm hút chân không. Các bơm này được nối với mạng lưới thoát nước ngang và một mạng lưới đường thấm thẳng đứng. Áp lực nước lỗ rỗng giảm dần và ứng suất có hiệu trong đất tăng bằng ứng suất tổng.
Việc tạo chân không này tối đa tương đương 4 mét đất đắp lại giảm được thời gian cố kết và không sợ mất ổn định dưới tác dụng của tải trọng Hình 1. 2 Sơ đồ cố kết bằng hút chân không 1. Phạm vi ứng dụng Xử lý cục bộ trong các khu vực đất rất mềm và không được đắp cao. Có thể kết hợp với việc đắp đất thông thường 1.
Thi công Cần phải thi công các mạng lưới đường thấm thẳng đứng và một lớp thoát nước nằm ngang nối liền với hệ thống bơm. Đặt một màng mỏng kín trên mặt đất và bơm hút chân không, tạo nên một vùng áp thấp trên mặt. Không sợ mất ổn định chỉ khi hút chân không, có thể phối hợp với việc đắp nền. Phương pháp điện thấm [2] 1.
Nguyên lý và tác dụng Phương pháp cố kết chân không (gia tải trước) là một trong các phương pháp phổ biến để cải tạo đất yếu được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới.Một mạng các điện cực âm và điện cực dương (các ống rỗng) được bố trí theo một mạng lưới đều đặn trong khối đất cần xử lý. Tác dụng một số hiệu điện thế giữa các cực dương và các cực âm sẽ sinh ra một dòng chảy về các điện cực âm và nước sẽ thoát đi từ đây (Hình 1. Việc thoát nước này sẽ làm giảm độ ẩm trung bình trong đất gây lún và tăng cường độ kháng cắt của đất Hình 1. 3 Nguyên lý của phương pháp điện thấm 1.
Phạm vi ứng dụng Phương pháp này đã được sử dụng trên một vài công trường để ổn định nền móng hoặc các nền đường vào cầu khó khăn không thể xừ lý bằng các phương pháp thông dụng khác 1. Phương pháp tăng cường bằng vật liệu địa kỹ thuật tổng hợp [5] 1. Khái niệm chung Vải địa kỹ thuật (Geofextile) là những tấm hoặc dãi băng dài được cuộn lại thành cuộn. Đây là loại vật liệu có khả năng thấm nước.
Vải địa kỹ thuật được làm từ Polymer tổng hợp hoặc các sản phẩm có liên quan của polymer nhờ các quá trình công nghệ sản xuất khác nhau. Cho đến nay có hai loại chính: Vải địa kỹ thuật không dệt (non wowen Geofextile) và vải địa kỹ thuật dệt (wowen Geofextile). 11 Việc đặt một hoặc nhiều lớp thảm bằng vải địa kỹ thuật hoặc lưới địa kỹ thuật ở đáy của nền đắp sẽ làm tăng cường độ chịu kéo và cải thiện độ ổn định của nền đường chống lại sự trượt tròn. Như vậy có thể tăng chiều cao của nền đắp đất của từng giai đoạn không phụ thuộc vào sự lún trồi của đất.
Vải địa kỹ thuật còn có tác dụng làm cho độ lún dưới nền đắp được đồng đều hơn Những năm 90, vải địa kỹ thuật được sử dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới như:Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Indonexia, Malaysia,… Ở Việt Nam, vải địa kỹ thuật được sử dụng lần đầu tiên vào tháng 6, 1996 trong dự án nâng cấp Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng dài 106 km. 4 Dùng vải địa kỹ thuật để tăng cường độ ổn định của đất nền 1.