Chương 1: Cơ sở lý luận và tong quan nghiên cứu Chương 2: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một sô vần dé chung về von dau tư trực tiép nước ngoài 1. Khái niệm và vai trò của von dau tư trực tiêp nước ngoài 1. Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Forelgn Direct Investment - FDI) là một loại hình thâm nhập thị trường quốc tế với hình thức đầu tư đài hạn của các chủ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bằng cách xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh tại nước tiép nhận dau tư.
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận định: “Đẩu tur trực tiếp nước ngoài là đầu tự có lợi ích lâu đài cua một doanh nghiệp tại một nước khác (hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (source country) với mục dich quản lý có hiệu quả doanh nghiệp”. Ba yêu tố được nhẫn mạnh trong khái niệm này là tính lâu dài, yêu tô nước ngoài và động cơ đâu tư. Uỷ ban Thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), trong Báo cáo đầu tư thé giới năm 1962 đã đưa ra khái niệm về vốn FDI: “Đầu tu trực tiếp nước ngoài là đâu tư có mối liên hệ lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà dau tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) doi với một doanh nghiệp ở nên kinh tế khác”. Theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam đưa ra năm 2000 và Luật đầu tư của Việt Nam được chính thức ban hành ngày 12/12/2005, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà dau tư trực tiếp bỏ vốn và tham gia hoạt động quản lý đầu tu’’.
Từ các quan điểm được đưa ra ở trên, có thé hiểu vốn FDI là hình thức nhà đầu tư nước ngoài nắm quyền quản lý với mục đích thu được lợi ích kinh tế từ quốc gia sở tại bằng cách đưa tiền tệ và công nghệ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Vai trò Trong hơn 30 năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng góp quan trọng vào tăng trương kinh tế của Việt Nam, bổ sung vào nguồn vốn dau tư phát triển, tăng thu ngân sách, thúc đây xuất khẩu và nhiều lĩnh vực quan trọng khác. Cụ thể: Thứ nhất, FDI góp phần chuyển dich cơ cấu kinh tế, day mạnh kha năng sản xuất, tăng tỷ trọng các ngành kinh tế mũi nhọn. - Cơ cau ngành chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp, dich VỤ.
- Cơ cấu nội tại của một ngành sản xuất, từ công nghệ lạc hậu, nhiều nhân công sang công nghệ hiện đại, trình độ lao động cao. - Cơ cấu nội tại của một lĩnh vực sản xuất, từ sản xuất công nghệ thấp sang áp dụng công nghệ tiên tiến, có trình độ kỹ thuật cao. Thứ hai, FDI giúp nước nhận đầu tư có sự liên kết chặt chẽ hơn với các định hướng xã hội, góp phần đây mạnh trình độ công nghệ, khoa học kỹ thuật của nước nhận đâu tư. Thứ ba, FDI mở rộng nguồn nhân lực trình độ cao, nâng cao khả năng cạnh tranh, tính hiệu quả trong môi trường tải chính các nước nhận đâu tư.
Thứ tư, FDI giúp tiếp cận thị trường quốc tế, thiết lập ngoại giao với các nước trong khu vực và trên thê giới. Không thé phủ nhận những vai trò tích cực mà FDI mang lại, song ta cũng không thể lơ đi những vai trò tiêu cực của nó, đặc biệt trong môi trường kinh doanh địa phương. Những vai trò tiêu cực đó điển hình như sau: Đôi với nước di dau tư, khi quyết định dau tư nước ngoài thì trong nước sé khó khăn hơn trong việc tìm nguôn von cũng như giải quyét việc làm cho người lao động, từ đó có thể dẫn tới suy thoái nền kinh tế tại nước đó. Ngoài ra còn có những rủi ro trong môi trường chính tri, xung đột vũ trang của nước sở tại.
Đối với nước nhận đầu tư, nếu không có kế hoạch rõ ràng sẽ dẫn tới đầu tư tràn lan kém hiệu quả, thêm vào đó là van dé ô nhiễm môi trường do tài nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa bãi. Ngoài ra các chính sách trong nước, các lĩnh vực và địa bàn đầu tư ban đầu có thể bị thay đổi, dẫn đến sự mất cân đối giữa các vùng của nước nhận đâu tư. Đặc diém và các hình thức của von dau tư trực tiép nước ngoài 1. Đặc điểm Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư kinh doanh phổ biến trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Mục đích đầu tư FDI là mang đến lợi nhuận tôi ưu cho các nhà đâu tư, với những đặc điêm cụ thê: Thứ nhất, nhà đầu tư von FDI là chủ sở hữu vốn, là một phần của hình thức chuyển dịch vốn quốc tế nói chung, trong đó chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài và đầu tư vào một quốc gia khác. Vì vậy, nhà đầu tư phải tuân thủ luật pháp của nước sở tại. Chủ sở hữu vốn đầu tư trực tiếp điều hành quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và được hưởng lợi ích từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương xứng với phần vốn góp đó. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức 100% vốn sẽ hoàn toàn có quyền quyết định mọi hoạt động kinh doanh.
Thứ hai, vốn FDI bao gồm vốn đầu tư ban đầu và các khoản vay của nhà đầu nước ngoài nhằm mục dich dé quy hoạch hóa dự án cũng như vốn dau tư thu lại được từ lợi nhuận sau thuế. Vì vậy, nước tiếp nhận đầu tư phải có hoạch định tài chính hợp lý, tránh tình trạng một số nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng chỉ đưa một lượng vốn nhỏ vào sau đó tiễn hành vay vốn tại nước sở tại dé thực hiện đầu tư làm ảnh hưởng đến nước được đầu tư. Thứ ba, von FDI là von dau tư trực tiêp từ bên nước ngoài nên có thê coi đây là nguôn vôn bô sung lâu dài đôi với nước sở tại đê phát triên nên kinh tê. Thứ tw, von FDI là hình thức mà các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn đến nước khác dé đầu tư.
Do đó, vốn FDI tại nước sở tại không phải hoàn trả nợ và cũng không tạo gánh nặng nợ quốc gia. Có thé coi đây là một ưu thế so với các hình thức đầu tư nước ngoài khác. Lượng vốn mà phía nhà đầu tư nước ngoài phải đóng góp, tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia và thay đổi thay đổi theo thời gian được gọi là vốn FDI. Việc đem nguồn vốn từ bên ngoài đầu tư vào nước sở tai, đặc biệt là những nước dang phát triển sẽ đảm bảo an ninh tài chính của nước tiép nhận đâu tu tot hơn nhiêu so với các khoản vay quôc gia khác.
Thứ năm, vôn FDI là hình thức xuất khẩu vốn nhằm thu lợi nhuận cao do các nhà đầu tư nước ngoài quyết định về quy mô và việc sử dụng vốn. Bởi lẽ mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao luôn được các nhà đầu tư nước ngoài đặt lên hàng đầu nên có thể gây ra nhiều bat lợi, ton thất ảnh hưởng đến quyền lợi của quốc gia nhận đầu tư. Các hình thức Thị trường đầu tư là một khoảng không gian rộng lớn, nơi mà các nhà đầu tư cá nhân và các công ty lớn có thể đầu tư vào các quốc gia sở tại. Khi một công ty đầu tư vào hoạt động kinh doanh của một công ty khác ở nước ngoài, khoản đầu tư đó gọi là vốn FDI.
Có bốn hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài khác nhau, cụ thể là: Một là, FDI theo chiều ngang, là loại hình FDI phổ biến nhất, chủ yếu xoay quanh việc đầu tư vốn vào một công ty nước ngoài thuộc cùng ngành sản xuất do nhà đầu tư FDI sở hữu hoặc điều hành. Ở đây, cả hai công ty đều sản xuất hàng hóa tương tự nhau. Ví dụ, công ty Zara có trụ sở tại Tây Ban Nha có thé đầu tư vào công ty Fabindia của An Độ vi cả hai đều cùng sản xuất ngành hàng hóa may mặc. Hai là, FDI theo chiều dọc, là một loại hình đầu tư xảy ra khi một khoản đầu tư được thực hiện trong một chuỗi cung ứng điển hình của một công ty, không nhất thiết thuộc cùng ngành hàng.
Như vậy, khi FDI theo chiều dọc xảy ra, một doanh nghiệp đầu tư vào một quốc gia nước ngoài có thể cung cấp hoặc bán sản phẩm. Ngoài ra, FDI dọc được phân loại thành FDI tích hợp dọc ngược và FDI tích hợp dọc xuôi. Ví dụ, nhà sản xuất cà phê Nescafe của Thụy Sĩ có thể đầu tư vào các đồn cà phê của các quốc gia như Brazil, Việt Nam,. vì công ty đầu tư đã mua các nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng.
Đây gọi là FDI tích hợp dọc ngược. Ngược lại, FDI tích hợp dọc xuôi xảy ra khi một doanh nghiệp đầu tư vào một quốc gia khác xếp hạng cao hơn trong chuỗi cung ứng. Ví dụ, một công ty cà phê của An Độ có thé muốn đầu tư vào một thương hiệu tạp hóa của Pháp. Ba là, FDI tập đoàn, là hình thức đầu tư xảy ra khi các khoản đầu tư được thực hiện ở hai công ty hoàn toàn khác nhau về các ngành hàng sản xuất.Như vậy, vôn FDI không liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư.
Vi dụ, nhà bán lẻ Walmart của Mỹ có thé đầu tư vào nhà sản xuất ô tô TATA Motors của An Độ. Bon là, FDI nền tang, là hình thức đầu tư xảy ra khi một doanh nghiệp mở rộng ra nước ngoài nhưng các sản phẩm sản xuất được xuất khẩu sang quốc gia thứ ba. Ví dụ, thương hiệu nước hoa Chanel của Pháp đã thành lập một nhà máy sản xuất nước hoa tại Hoa Kỳ và xuất khẩu sản phẩm sang các nước khu vực Châu Âu, Châu Mỹ. Giới thiệu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1.
Khái niệm về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền của các tỉnh, thành Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi dé phát triển doanh nghiệp. Chỉ số này được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 đối với 42 tinh, thành phố trực thuộc trung ương. Từ năm 2006, VCCI công bố chính thức chỉ số này cho tất cả các tỉnh, thành phố ở Việt Nam, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường thêm, tính đến hiện tại có 10 chỉ số thành phần.