Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài gồm: giới thiệu đề tài, nội dung đề tài, giới hạn, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và cấu trúc luận văn. 3 Chương 2: Trình bày một số kiến thức nền tảng: tổng quan về hệ thống giám sát thông minh và những lý thuyết căn bản về bộ huấn luyện dữ liệu Support Vector Machine (SVM). Và kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn bao gồm: phân loại đối tượng dựa vào hình dạng, phân loại đối tượng dựa vào chuyển động và các phương pháp phân loại khác. Chương 3: Trình bày chi tiết hướng tiếp cận và giải thuật đề xuất của luận văn.
Chương 4: Trình bày cách hiện thực hệ thống của luận văn gồm: tập dữ liệu huấn luyện và kiểm tra; kết quả phân loại và đánh giá trong từng bước. Chương 5: Tổng kết và trình bày một số kết luận về ưu điểm, khuyết điểm cũng như hướng phát triển của luận văn. Cuối cùng là phần liệt kê các tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu và hiện thực của luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Hệ thống giám sát thông minh Một hệ thống giám sát thông minh là một tập hợp các bài toán nhỏ. Nhìn một cách tổng quan: - Đầu vào của hệ thống sẽ là hình ảnh thu được tại các điểm quan sát - Đầu ra của hệ thống sẽ là các thông tin về chuyển động, hành vi, lớp… của các đối tượng được giám sát. Việc xử lý của hệ thống giám sát thông minh tóm lại có thể hiểu là việc phân tích và xử lý hình ảnh video qua việc giải quyết các bài toán sau: Bài toán 1: Phát hiện các đối tượng chuyển động là bước cơ bản đầu tiên trong bài toán phân tích hình ảnh video, công việc này khái quát lại đó là việc tách các các đối tượng chuyển động từ các hình ảnh nền của các đối tượng đó. Phương pháp thường được sử dụng trong bài toán này đó là: phương pháp trừ ảnh nền, các phương pháp dựa trên thống kê, phương pháp chênh lệch tạm thời, và các phương pháp dựa trên luồng thị giác [4].
Bài toán 2: Phân lớp đối tượng là công việc phân loại ra các lớp đối tượng đã được tìm ra theo các lớp đã được định nghĩa trước như: Lớp người, lớp phương tiện, lớp động vật,… Đây là bước cần thiết để có thể tiếp tục phân tích các hoạt động của chúng. Hiện tại có hai hướng chính tiếp cận để giải quyết bài toán này đó là: Hướng tiếp cận dựa trên hình dáng của các vết và hướng tiếp cận dựa trên chuyển động của các đối tượng. Hướng tiếp cận dựa trên hình dáng của đối tượng hoàn toàn dựa vào các tính chất 2D của các vết tìm được, trong khi đó hướng tiếp cận dựa trên chuyển động của đối tượng dựa trên các tính chất chuyển động của đối tượng theo thời gian. Bài toán 3: Theo dõi đối tượng đó là công việc đưa ra một chuỗi các hành vi của đối tượng chuyển động trong một thời gian từ các khung hình thu được.
Thủ tục này đưa ra các thông tin về đối tượng được theo dõi như đường đi của đối tượng, tốc độ hay hướng chuyển động của đối tượng. Từ đó có thể dự đoán được hành 5 động của các đối tượng và mô tả được hành động của chúng. Đầu vào của quá trình này đó là các đầu ra các quá trình tìm và phân lớp đối tượng chuyển động. Các bài toán này không những được nghiên cứu và áp dụng trong các hệ thống giám sát mà còn được áp dụng trong các lĩnh vực khác như: thực tại ảo, nén hình ảnh, giao diện người máy, biên tập video và cơ sở dữ liệu đa phương tiện, là các hướng tiếp cận phát triển công nghệ đa phương tiện trong tương lai.
Mô hình khái quát chung cho hệ thống giám sát thông minh: PHÁT HIỆN ĐỐI TƯỢNG PHÂN LỚP ĐỐI TƯỢNG THEO DÕI ĐỐI TƯỢNG THÔNG TIN ĐỐI TƯỢNG CHUYỂN ĐỘNG Hình 2.1: Mô hình các bài toán cần giải quyết trong hệ thống giám sát Trên đây là mô hình tuần tự các bước giải quyết trong một bài toán giám sát bằng hình ảnh. Luận văn thực hiện giải quyết hai bài toán trong hệ thống giám sát thông minh gồm: Phát hiện đối tượng (Object Detection) và phân loại đối tượng (Object Classification). Đầu vào của bài toán là các khung hình video thu được. Qua quá trình xử lý phát hiện đối tượng chuyển động (Object Detection) sẽ đưa ra các đối tượng chuyển động trong các khung hình video.
Các đối tượng được phát hiện (cụ thể là các vết chuyển động) sẽ qua quá trình phân lớp đối tượng (Object Classification) để phân 6 lớp các đối tượng đó thuộc lớp nào, sự vật nào. Và cuối cùng là quá trình xử lý để theo dõi đối tượng (Object Tracking) đó là việc tìm ra đường chuyển động của đối tượng, dự đoán chuyển động, và việc xử lý các nhập nhằng trong chuyển động của nhiều đối tượng khác nhau trong một đoạn video. Từ các khung hình thu được ở các nơi quan sát, qua khối xử lý phát hiện đối tượng chuyển động sẽ xác định được đâu là đối tượng chuyển động. Cụ thể hơn, có thể chỉ ra được các đối tượng chuyển động trong đoạn video thu được một cách trực quan.
Đầu ra của quá trình này sẽ là các vết, hình dạng của đối tượng chuyển động để làm đầu vào của khối phân loại đối tượng chuyển động. Khối xử lý phát hiện đối tượng chuyển động có thể coi là khối xử lý đầu tiên trong hệ thống giám sát thông minh bằng hình ảnh. Vì hiệu quả, tính chính xác của khối xử lý này sẽ ảnh hưởng đến đầu vào và đầu ra của các khối xử lý tiếp theo. Chính vì thế nó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và tính tin cậy của toàn hệ thống giám sát thông minh.
Phân loại đối tượng là khâu trung gian và đóng vai trò quan trọng trong toàn hệ thống, vì đây là đầu vào của khối theo vết đối tượng và cũng là đầu ra của toàn bộ hệ thống. Bởi vậy đây cũng là một phần không thể thiếu trong toàn bộ hệ thống. Vấn đề này đã được nghiên cứu và phát triển trong nhiều năm, song hướng phát triển hoàn thiện các khối xử lý phát hiện, phân loại và theo dõi đối tượng chuyển động vẫn đang được quan tâm. Các hướng tiếp cận mới nhằm phát hiện, phân loại và theo dõi các đối tượng một cách hiệu quả, tính chính xác cao nhất với điều kiện môi trường, hoàn cảnh giám sát khác nhau.
Ở đây luận văn tốt nghiệp tập trung trình bày các nghiên cứu và thực nghiệm về bài toán phát hiện, phân loại đối tượng chuyển động trong hệ thống theo dõi, giám sát thông minh bằng video với hiệu quả tính chính xác cao. Bài toán phát hiện đối tượng chuyển động Đầu vào của bài toán phát hiện đối tượng chuyển động như đã trình bày ở trên đó là các khung hình video [5] thu được từ các điểm quan sát, theo dõi. Như vậy để có thể giải quyết bài toán phát hiện đối tượng chuyển động ta cần nghiên cứu một số đặc điểm của video (đầu vào của bài toán). 7 Các khái niệm cơ bản về video Video là tập hợp các khung hình, mỗi khung hình là một ảnh.
Shot (lia) là đơn vị cơ sở của video. Một lia là một đơn vị vật lý của dòng video, gồm các chuỗi các khung hình liên tiếp, không thể chia nhỏ hơn, ứng với một thao tác camera đơn. Scene (cảnh) là các đơn vị logic của dòng video, một cảnh gồm các lia liên quan về không gian và liền kề về thời gian, cùng mô tả một nội dung ngữ nghĩa hoặc một tình tiết.2: Cấu trúc phân đoạn video Khi phim được chiếu, các khung hình lần lượt được hiển thị ở tốc độ nhất định. Tốc độ thường thấy ở các định dạng video khác nhau là 30 và 25 hình/s.
Như vậy một giờ video sẽ có số khung hình tương ứng là 108000 hoặc là 90000. Dù là video ở định dạng nào thì nó cũng có dung lượng rất lớn và nếu xử lý với tất cả các khung hình thì thật không hiệu quả. Phân đoạn là quá trình phân tích và chia nội dung hình ảnh video thành các đơn vị cơ sở gọi là các lia (shot). Việc lấy mẫu chính là chọn gần đúng một khung video đại diện cho mỗi lia (hoặc nhiều hơn tùy theo mức độ phức tạp của nội dung hình ảnh của lia) và được gọi là các khung-khóa [5].
Khung – khóa là khung hình đại diện mô tả nội dung chính của shot. Quá trình phân đoạn dữ liệu video tiến hành phân tích, phát hiện sự chuyển đổi từ lia này sang lia khác hay chính là sự phát hiện ranh giới giữa các lia (đó chính là đo sự khác nhau giữa các khung hình liền kề). Trong hình dưới đây là ví dụ về sự chuyển đổi giữa các lia: 8 Hình 2.3: Chuyển đổi Lia giữa khung hình thứ 3 và thứ 4 Một số thuộc tính đặc trưng của video: Video có 4 đặc trưng chính đó là: Color (màu), Texture (kết cấu), Shape (hình dạng), Motion (chuyển động). a) Color Màu là một thuộc tính quan trọng của ảnh.
Biểu đồ màu, biểu diễn sự phân bố màu, là một đặc trưng màu phổ biến nhất hiện nay. Biểu đồ màu không phụ thuộc vào sự quay, dịch chuyển ảnh cũng như chiều nhìn ảnh. Tính hiệu quả của nó lại phụ thuộc vào hệ màu và phương pháp định lượng được dùng. Có một vấn đề với biểu đồ màu là nó không biểu diễn thông tin về không gian phân bố các điểm ảnh, do đó hai ảnh có cùng biểu đồ màu có thể có nội dung rất khác nhau.4: Bốn khung hình khác nhau song có cùng một biểu đồ màu b) Texture Đây là một đặc trưng quan trọng của bề mặt, nơi xảy ra việc lặp lại mẫu cơ bản.
Có hai dạng biểu diễn texture phổ biến: biểu diễn dạng ma trận đồng thời và biểu diễn Tamura. Ma trận đồng thời mô tả hướng và khoảng cách giữa các điểm ảnh, nhờ đó các thống kê có nghĩa có thể được trích chọn. Ngược lại, người ta thấy rằng entropi và mô men chênh lệch nghịch đảo lại có khả năng phân biệt tốt nhất. Biểu diễn Tamura được thúc đẩy nhờ các nghiên cứu về tâm lý trong việc thu nhận trực giác của con người và nó bao gồm các đại lượng đo tính thô, độ tương phản, hướng, tính trơn, tính cân đối và độ ráp.
Các đặc trưng Tamura rất hấp dẫn trong việc hiểu nội dung ảnh vì nó biểu đạt trực quan.