Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình ngành công nghiệp dệt nhuộm 1. Tình hình ngành công nghiệp dệt nhuộm trên thế giới Hiện nay, ngành công nghiệp dệt nhuộm có liên quan chặt chẽ với ngành công nghiệp may mặc, luôn đi cùng nhau và có xu hướng phát triển ngày càng mạnh mẽ. Theo thống kê năm 2012, thị trường của ngành công nghiệp dệt may toàn cầu đạt 1,105 tỷ USD, chiếm 1,8% tổng GDP và có thể lên tới 2.110 tỷ USD vào năm 2025.
Trong đó, Trung Quốc, EU, Ấn Độ là những nước xuất khẩu các mặt hàng dệt may lớn nhất thế giới với 65,8% sản lượng và 66,9% giá trị. Về phía nhập khẩu, EU và Mỹ là hai khu vực/quốc gia nhập khẩu các mặt hàng vải, tơ sợi lớn nhất. Ngày nay, xã hội phát triển hơn, đời sống con người ngày càng được mở rộng, nhu cầu may mặc cũng nâng cao. Cùng với sự phát triển đó, các mặt hàng may mặc với mẫu mã đa dạng trở nên phổ biến và lan rộng, vì vậy thị trường sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng dệt may cũng được mở rộng và đang chuyển dần sang các nước tại Châu Á với tỷ trọng khoảng 62% trong thị trường của thế giới [1].
Giai đoạn năm 2019 – 2020, ngành công nghiệp dệt nhuộm đã chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 tuy nhiên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ngành hàng này lại không đổi cho thấy sự phát triển và khả năng phục hồi của thị trường dệt may luôn cao. Tình hình sản xuất và xuất khẩu ngành dệt may ở Việt Nam Theo xu hướng phát triển của thế giới, ngành công nghiệp dệt nhuộm của Việt Nam cũng phát triển mạnh mẽ và góp mặt vào một trong bốn ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế đất nước. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nhưng kim ngành xuất khẩu của hàng dệt nhuộm và may mặc vẫn ước đạt 11,83 tỷ USD, tăng 2,15% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu xơ, sợi dệt các loại tăng 31%; kim ngạch xuất khẩu vải mành, vải kỹ thuật khác tăng 8,8%. Trong đó Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc đang là ba thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam [2].
Song song cùng với những đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước thì hoạt động sản xuất của ngành dệt nhuộm lại mang đến nhiều tác động với môi trường sinh thái. Ngoài những tác động tới môi trường như ô nhiễm tiếng ồn, bụi, chất 7 thải rắn thì mối quan tâm lớn nhất chính là nước thải dệt nhuộm. Để đáp ứng được nhu cầu thị trường về chủng loại, mẫu mã thì các nhà sản xuất cũng phải sử dụng nhiều loại nguyên liệu khác nhau khiến thành phần nước thải dệt nhuộm càng thêm phức tạp. Do đó vấn đề ô nhiễm từ ngành công nghiệp dệt nhuộm, đặc biệt là nước thải luôn được quan tâm chú ý.
Tổng quan về nước thải dệt nhuộm 1. Quy trình công nghệ trong ngành dệt nhuộm Ngành dệt may là ngành công nghiệp có dây chuyền công nghệ phức tạp, bao gồm nhiều công đoạn khác nhau và hầu hết các công đoạn này đều tạo ra nước thải. Ngoài ra quá trình sản xuất còn sử dụng các nguồn nguyên liệu như tơ, sợi, bông… cùng với nhiều loại hóa chất khác nhau nên lượng nước thải cũng như thành phần nước thải có sự đa dạng rõ rệt. Trong quá trình dệt nhuộm, nước được sử dụng rất nhiều trong tất cả các công đoạn.
Có tới 88% nước được sử dụng thải ra dưới dạng nước thải kèm với đó là hóa chất dư, chất phụ trợ lẫn vào. Với mỗi loại sợi ban đầu khác nhau cũng sẽ tiêu thụ lượng nước khác nhau [4]. Tiêu thụ nước trong ngành dệt nhuộm Hàng dệt nhuộm Lượng nước tiêu thụ (m3/tấn sản phẩm) Vải Cotton 80-240 Vải Cotton dệt thoi 70-180 Len 100-250 Vải Polyacrylic 10-70 Nguồn: Tài liệu hướng dẫn sản xuất sạch hơn ngành dệt nhuộm [4] Quy trình sản xuất ngành dệt nhuộm được trình bày trong Hình 1.1: 8 Nguyên liệu đầu vào Kéo sợi, chải H2O, Tinh bột Nước thải chứa hồ Phụ gia, hơi nước Hồ sợi tinh bột, hóa chất Dệt vải Nước thải chứa hồ Enzym, NaOH Giũ hồ tinh bột, NaOH NaOH, hóa chất Nấu Nước thải Hơi nước H2SO4, H2O Xử lý axit Nước thải Chất tẩy giặt H2O2, NaOCl, Nước thải chứa Tẩy trắng hóa chất hóa chất H2SO4, Chất tẩy Giặt Nước thải giặt, H2O2 NaOH, hóa chất Làm bóng Nước thải chứa kiềm Dung dịch Nhuộm, in hoa Dịch nhuộm thải nhuộm H2SO4, Chất tẩy Nước thải Giặt giặt, H2O2 Hồ, hóa chất Nước thải Hoàn tất Hơi nước Sản phẩm Hình 1. Sơ đồ quy trình dệt nhuộm kèm dòng thải Quy trình dệt nhuộm có thể phân thành các công đoạn chính sau: Chuẩn bị nguyên liệu: Sợi nguyên liệu được nhập vào đầu tiên qua công đoạn đánh ống nhằm loại bỏ xơ, cặn bẩn.
Làm sạch nguyên liệu: Nguyên liệu thường được đóng dưới dạng các kiện bông thô, chứa các sợi bông có kích thước khác nhau cùng với các tạp chất tự nhiên như: bụi, đất…. Nguyên liệu bông thô được đánh tung, làm sạch và trộn đều sau đó trải phẳng. 9 Kéo sợi: Sợi vải thô được kéo nhằm giảm kích thước, tăng độ bền của sợi, tạo thành các ống sợi để chuẩn bị dệt vải. Hồ sợi: Sử dụng hồ tinh bột và hồ biến tính nhằm tăng cường lực cho sợi trong quá trình dệt.
Sau khi hồ sợi vải được đem đi dệt. Hóa chất sử dụng có thể gồm Chuẩn bị nhuộm: Sau khi xác định quá trình nhuộm, Vải cần được xử lý để đảm bảo độ trắng cần thiết và khả năng thuốc nhuộm bám đều lên mặt vải và giữ được độ bền trên đó, Rũ hồ: Các loại vải sau khi dệt mang nhiều tạp chất như vụn bông, bụi, dầu mỡ, lượng hồ dư. Do đó mục đích của rũ hồ là dùng một số loại hóa chất hủy bỏ lớp hồ này. Hóa chất thường được dùng là acid sulfuric loãng 0,5M, bazo loãng, men vi sinh vật, muối, chất ngấm.
Vải sau khi rũ hồ được giặt lại bằng nước, xà phòng, chất ngấm rồi đưa sang nấu tẩy. Nấu vải: Quá trình này loại bỏ phần hồ dư và các tạp chất thiên nhiên của xơ sợi. Sau khi nấu vải có độ mao dẫn và khả năng thấm ướt cao, hấp thụ hóa chất, thuốc nhuộm cao hơn, vải mềm và đẹp hơn. Vải được nấu trong dung dịch kiềm và các chất tẩy giặt ở áp suất cao (2 – 3 atm).
Quy trình này sinh ra lượng nhiệt lớn khiến nước thải đầu ra có nhiệt độ cao. Tẩy trắng: Công đoạn này dùng để tẩy màu tự nhiên của vải, làm sạch chất bẩn, tạo độ trắng cho vải. Những hóa chất thường được dùng là natri hypochlorite, acid sulfuric, và các chất phụ trợ như Slovapon N. Nhuộm: Mục đích của quá trình này là tạo ra những màu sắc khác nhau của vải.
Để nhuộm vải người ta sử dụng các loại thuốc nhuộm tổng hợp cùng với các chất trợ nhuộm để tạo sự gắn màu của vải. Phần thuốc nhuộm dư sẽ theo dòng nước thải đi ra. Quá trình thuốc nhuộm vào vải xảy ra theo 4 bước: i. Di chuyển các phân tử thuốc nhuộm đến bề mặt sợi vải; ii.
Gắn màu vào bề mặt sợi; iii. Khuếch tán màu vào bề mặt sợi, quá trình này xảy ra chậm hơn so với quá trình ii. Cố định màu vào sợi. Để tăng hiệu quả nhuộm, các chất phụ trợ được sử dụng như acid sulfuric, các muối natri sulfat, muối amoni, các chất cầm màu.
Một số loại thuốc nhuộm được sử dụng như: Pigment, Azo, thuốc nhuộm lưu huỳnh, chất tẩy trắng quang học. 10 In: quá trình in tạo ra các hoa văn trên nền vải trắng hoặc nền vải màu. Giặt: Sau quá trình nhuộm và in vải được giặt nóng và lạnh nhiều lần nhằm loại bỏ tạp chất, thuốc nhuộm dự trên vỉa. Hoàn tất: công đoạn này làm ổn định kích thước vải, chống nhàu.
Một số loại hóa chất sử dụng như acid acetic, formaldehyte… nhằm chống nhàu và làm mềm. Thành phần, tính chất nước thải dệt nhuộm Thành phần nước thải phụ thuộc vào: đặc tính của vật liệu nhuộm, bản chất của thuốc nhuộm, các chất phụ trợ và các hóa chất khác được sử dụng. Nguồn nước thải bao gồm từ các công đoạn chuẩn bị sợi, chuẩn bị vải, nhuộm và hoàn tất. Trong quá trình sản xuất, lượng nước thải ra 12 - 300 m3/tấn vải, chủ yếu từ công đoạn nhuộm và nấu tẩy.
Các loại thuốc nhuộm được đặc biệt quan tâm vì chúng thường là nguồn sinh ra các kim loại, muối và màu trong nước thải [4]. Các chất hồ vải với lượng BOD 5, COD cao và các chất hoạt động bề mặt là nguyên nhân chính gây ra tính độc cho thuỷ sinh của nước thải dệt nhuộm. Các chất ô nhiễm chính là các chất hữu cơ từ quá trình tiền xử lý của bột giấy, bông, cellulose, hemicellulose, kiềm, các chất phụ gia và thuốc nhuộm dùng trong quá trình nhuộm và in [21]. Nước thải tiền xử lý chiếm khoảng 45% tổng lượng nước thải ra trong khi đó quá trình nhuộm/in chiếm từ 50 – 55%, còn quá trình hoàn tất tạo ra rất ít nước thải.
Quá trình tiền xử lý của sợi cotton bao gồm hồ sợi và giũ hồ. Chất ô nhiễm chính tạp chất trong sợi cotton, keo cotton, hemicellulose và bùn, kiềm trong quá trình nấu. Nồng độ COD trung bình trong giai đoạn tiền xử lý là 3000 mg/L. Các chất ô nhiễm chính trong quá trình nhuộm/in là chất phụ trợ và thuốc nhuộm dư.
Nồng độ trung bình của COD trong giai đoạn này là 1000 mg/L và tổng nồng độ trung bình là 2000 mg/L sau khi pha trộn. Sợi polyester lại được tiền xử lý bằng kiềm. Quá trình này được xử lý với dung dịch natri hydroxide 8% ở 90oC trong khoảng 45 phút. Một số sợi vải polyester bong ra và phân hủy thành acid terephthalic và ethylene glycol khiến sợi vải polyester mỏng có cảm giác như lụa.
Quá trình này có thể chia thành loại liên tục và theo mẻ. Với loại xử 11 lý theo mẻ, nồng độ COD từ 20000 – 60000 mg/L. Nước thải từ quá trình này tuy chỉ chiếm 5% khối lượng nước thải nhưng chiếm tới 60% tổng lượng COD. Độ màu cũng là một trong những chất ô nhiễm của nước thải gây ra nhiều lo ngại.
Trong quá trình nhuộm, tỷ lệ nhuộm trung bình là hơn 90%, điều đó có nghĩa là tỷ lệ thuốc nhuộm còn lại trong nước thải từ quá trình hoàn thiện là khoảng 10%, đây là nguyên nhân ô nhiễm chính. Theo các loại thuốc nhuộm và quy trình khác nhau, độ màu có thể cao hơn từ 200 đến 500 lần.