Khóa Luận Tốt Nghiệp: Phân Lập Nấm Trichoderma Ứng Dụng Trong Xử Lý Bã Thải Trồng Nấm

Tài liệu nghiên cứu 2020 k60 cnsh pao hung chung, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

67
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.3. Tổng quan về phân hữu cơ

1.3.1. Khái niệm phân hữu cơ

1.3.2. Ưu nhược điểm của phân hữu cơ

1.4. Tình hình ứng dụng vi sinh vật xử lí rác thải

1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.5. Một số mô hình ủ phân hữu cơ tại Việt Nam

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ phân

1.6.1. Yếu tố dinh dưỡng

2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Vật liệu nghiên cứu

2.3.2. Các trang thiết bị - dụng cụ

2.3.3. Thiết bị sử dụng

2.3.4. Bố trí thí nghiệm

2.3.5. Thí nghiệm 1: phân lập, tuyển chọn chủng nấm Trichoderma chủng

2.3.6. Phương pháp nghiên cứu

2.3.6.1. Phân lập nấm Trichoderma
2.3.6.2. Phương pháp nuôi cấy thu sinh khối nấm
2.3.6.3. Phương pháp xác định khả năng sinh enzyme ngoại bào
2.3.6.4. Phương pháp xác định đặc tính sinh hóa của các chủng nấm
2.3.6.5. Phương pháp xác định đặc diểm hình thái, sinh lý của nấm
2.3.6.6. Phương pháp làm tiêu bản

2.3.7. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng phân bón

2.3.8. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn

3.2. Đặc điểm hình thái khuẩn lạc của một số chủng nấm phân lập được

3.3. Hoạt tính enzyme ngoại bào của các chủng nấm phân lập được

3.4. Kết quả bước đầu thử nghiệm xử lý bã thải trồng nấm

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phân Lập Nấm Trichoderma Bã Thải Nấm

Trong bối cảnh vấn đề môi sinh ngày càng trở nên cấp thiết, việc tìm kiếm các giải pháp nông nghiệp bền vững là vô cùng quan trọng. Sử dụng quá mức phân bón hóa học gây ra nhiều hệ lụy cho môi trường đất và sức khỏe cộng đồng. Do đó, việc ứng dụng phân bón sinh học, đặc biệt là từ nguồn bã thải trồng nấm, mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp sạch. Nấm Trichoderma, với khả năng phân giải cellulose mạnh mẽ, đóng vai trò then chốt trong quá trình này. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân lập nấm Trichoderma và ứng dụng nó trong xử lý bã thải trồng nấm để tạo ra phân bón hữu ích, góp phần vào nền nông nghiệp bền vững.

1.1. Tầm quan trọng của phân bón sinh học

Phân bón sinh học chứa các vi sinh vật hữu hiệu, tiếp tục phát huy tác dụng sau khi bón. Nhiều nước phát triển đã sản xuất chế phẩm phân bón sinh học dạng lỏng để kích thích cây trồng và xử lý phế thải hữu cơ. Ứng dụng Trichoderma trong sản xuất phân bón giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tạo ra sản phẩm an toàn cho người sử dụng.

1.2. Tiềm năng từ bã thải trồng nấm

Nghề trồng nấm ở Việt Nam phát triển mạnh, tạo ra lượng lớn bã thải sau trồng nấm, đặc biệt là bã thải mùn cưa. Nếu không được xử lý, bã thải này gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Tuy nhiên, bã thải mùn cưa lại rất thích hợp làm chất mang trong sản xuất phân bón sinh học. Việc phân lập nấm Trichoderma để xử lý bã thải là giải pháp hiệu quả, biến chất thải thành nguồn tài nguyên có giá trị.

II. Thách Thức Xử Lý Bã Thải Nấm và Nâng Cao Giá Trị

Mặc dù bã thải trồng nấm có tiềm năng lớn, việc sử dụng trực tiếp làm phân bón thường không hiệu quả do hàm lượng dinh dưỡng chưa đủ và mật độ vi sinh vật thấp. Nhiều hộ gia đình ủ hoai mục tự nhiên, nhưng hiệu quả không cao. Do đó, cần có phương pháp xử lý thích hợp để nâng cao chất lượng phân bón. Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm ra quy trình ủ đơn giản, hiệu quả, sử dụng nấm Trichoderma để phân giải cellulose và các chất hữu cơ khác trong bã thải, tạo ra phân bón sinh học chất lượng cao.

2.1. Thực trạng xử lý bã thải trồng nấm

Hiện nay, nhiều cơ sở trồng nấm chưa có quy trình xử lý bã thải hiệu quả. Một phần bã thải được tái sử dụng hoặc bán cho người trồng trọt ở dạng thô, chất lượng thấp. Phần lớn còn lại bị thải trực tiếp ra môi trường, gây lãng phí và ô nhiễm. Cần có giải pháp đồng bộ để xử lý bã thải một cách triệt để và biến chúng thành nguồn phân bón có giá trị.

2.2. Yêu cầu về quy trình xử lý hiệu quả

Quy trình xử lý bã thải trồng nấm cần đảm bảo tính đơn giản, dễ thực hiện và chi phí thấp. Đồng thời, phải nâng cao được hàm lượng dinh dưỡng và mật độ vi sinh vật có lợi trong phân bón. Việc sử dụng nấm Trichoderma để phân giải cellulose là một hướng đi đầy tiềm năng, giúp rút ngắn thời gian ủ và nâng cao chất lượng phân bón.

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ phân

Quá trình ủ phân hữu cơ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm: dinh dưỡng, độ ẩm, nhiệt độ, pH và tỷ lệ C/N. Để đảm bảo quá trình ủ diễn ra hiệu quả, cần kiểm soát chặt chẽ các yếu tố này. Việc bổ sung các chất dinh dưỡng, điều chỉnh độ ẩm và duy trì nhiệt độ thích hợp sẽ giúp vi sinh vật phát triển mạnh mẽ và phân giải chất hữu cơ nhanh chóng.

III. Giải Pháp Phân Lập và Ứng Dụng Nấm Trichoderma Hiệu Quả

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân lập các chủng nấm Trichoderma có khả năng phân giải cellulose mạnh mẽ từ các mẫu đất và bã thải trồng nấm. Sau khi phân lập, các chủng nấm được tuyển chọn dựa trên khả năng sinh enzyme ngoại bào và đặc tính sinh hóa. Chủng nấm tốt nhất sẽ được sử dụng để xử lý bã thải trồng nấm, tạo ra phân bón sinh học chất lượng cao. Quy trình phân lập và ứng dụng nấm Trichoderma được tối ưu hóa để đảm bảo tính hiệu quả và khả thi trong thực tế.

3.1. Quy trình phân lập nấm Trichoderma

Quy trình phân lập nấm Trichoderma bao gồm các bước: thu thập mẫu, nuôi cấy trên môi trường chọn lọc, phân lập khuẩn lạc đơn, kiểm tra đặc tính hình thái và sinh hóa. Các chủng nấm được phân lập sẽ được lưu giữ và sử dụng cho các thí nghiệm tiếp theo. Việc phân lập thành công các chủng nấm Trichoderma có khả năng phân giải cellulose mạnh mẽ là tiền đề quan trọng cho việc xử lý bã thải trồng nấm.

3.2. Tuyển chọn chủng nấm Trichoderma

Các chủng nấm Trichoderma sau khi phân lập sẽ được tuyển chọn dựa trên khả năng sinh enzyme ngoại bào (cellulase, amylase, protease) và đặc tính sinh hóa. Chủng nấm có khả năng sinh enzyme cao và phát triển tốt trên môi trường bã thải trồng nấm sẽ được lựa chọn để sử dụng trong quá trình xử lý.

3.3. Ứng dụng nấm Trichoderma trong xử lý bã thải

Chủng nấm Trichoderma được chọn sẽ được sử dụng để xử lý bã thải trồng nấm theo quy trình ủ đống. Quá trình ủ được theo dõi và kiểm soát chặt chẽ các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm và pH. Sau khi ủ, phân bón được đánh giá chất lượng dựa trên các chỉ tiêu hóa lý và sinh học.

IV. Kết Quả Đánh Giá Hiệu Quả Xử Lý và Chất Lượng Phân Bón

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả xử lý bã thải trồng nấm bằng nấm Trichoderma thông qua việc theo dõi sự thay đổi của các chỉ tiêu hóa lý (C/N, pH, độ ẩm) và sinh học (mật độ vi sinh vật, hoạt tính enzyme). Chất lượng phân bón sau xử lý được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn về hàm lượng dinh dưỡng (N, P, K) và khả năng cải tạo đất. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình sản xuất phân bón sinh học từ bã thải trồng nấm một cách hiệu quả và bền vững.

4.1. Theo dõi quá trình ủ phân

Quá trình ủ phân được theo dõi chặt chẽ về nhiệt độ, độ ẩm, pH và tỷ lệ C/N. Nhiệt độ đống ủ được đo hàng ngày để đảm bảo quá trình phân giải diễn ra hiệu quả. Độ ẩm được điều chỉnh để duy trì môi trường tối ưu cho vi sinh vật phát triển. pH được kiểm soát để tránh tình trạng quá chua hoặc quá kiềm.

4.2. Đánh giá chất lượng phân bón

Chất lượng phân bón sau ủ được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu: hàm lượng N, P, K, chất hữu cơ, độ ẩm, pH và mật độ vi sinh vật có lợi. Phân bón đạt tiêu chuẩn sẽ được sử dụng để bón cho cây trồng trong các thí nghiệm tiếp theo.

4.3. Thử nghiệm trên cây trồng

Phân bón sinh học được sản xuất từ bã thải trồng nấmnấm Trichoderma sẽ được thử nghiệm trên một số loại cây trồng để đánh giá hiệu quả tăng trưởng và năng suất. Kết quả thử nghiệm sẽ cung cấp thông tin quan trọng về khả năng ứng dụng của phân bón trong thực tế sản xuất.

V. Kết Luận Tiềm Năng và Hướng Phát Triển Bền Vững

Nghiên cứu về phân lập nấm Trichoderma và ứng dụng trong xử lý bã thải trồng nấm mở ra tiềm năng lớn cho việc sản xuất phân bón sinh học chất lượng cao, góp phần vào nền nông nghiệp bền vững. Việc tận dụng bã thải không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra nguồn tài nguyên có giá trị, mang lại lợi ích kinh tế cho người trồng nấm và người sử dụng phân bón. Cần có thêm nhiều nghiên cứu và ứng dụng thực tế để phát triển quy trình sản xuất phân bón sinh học từ bã thải trồng nấm một cách rộng rãi.

5.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học trong việc phân lập và tuyển chọn các chủng nấm Trichoderma có khả năng phân giải cellulose mạnh mẽ. Đồng thời, có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng quy trình sản xuất phân bón sinh học từ bã thải trồng nấm, góp phần vào việc xử lý chất thải và phát triển nông nghiệp bền vững.

5.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình phân lập và ứng dụng nấm Trichoderma, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân giải và chất lượng phân bón. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp và hộ gia đình tham gia vào sản xuất phân bón sinh học từ bã thải trồng nấm.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, vấn đề môi sinh ngày càng trở nên nghiêm trọng trên phạm vị toàn cầu. Việc sử dụng quá mức phân bón hóa học đã gây suy thoái môi trường đất và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, mặt khác còn gây lãng phí vì cây trồng chỉ sử dụng hết 20-30 % số phân đã bón, Việc sử dụng phân bón sinh học sẽ khắc phục được tình trạng này nhằm tạo ra một nền nông nghiệp sạch, an toàn và bền vững. Phân bón sinh học có chứa các vi sinh vật hữu hiệu tiếp tục phát huy tác dụng trên vườn ruộng sau khi bón nhiều ngày. Gần đây, ở một số nước phát triển, đi đầu là Nhật Bản đã sản xuất chế phẩm phân bón sinh học ở dạng lỏng để kích thích cây trồng, đồng thời để xử lý phế thải rắn hữu cơ và nước thải.

Các loại chế phẩm hiện nay được nhiều nước ứng dụng cho hiệu quả cao. Trong những năm gần đây nghề trồng nấm Việt Nam đang rất phát triển đem lại lợi ích kinh tế cao, mỗi năm sản xuất được khoảng 100. Mục tiêu của Chính phủ đến năm 2020 Việt Nam sản xuất được 2 triệu tấn nấm/năm đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước và tiến tới xuất khẩu. Tuy nhiên, nghề trồng nấm tạo ra một lượng bã thải sau trồng nấm rất lớn, nhất là lượng bã thải mùn cưa chiếm hơn 65% tổng lượng bã thải.

Lượng bã thải nếu tồn đọng trong tự nhiên sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, thẩm mỹ, cảnh quan và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Trong khi đó, bã thải mùn cưa sau trồng nấm rất thích hợp làm chất mang trong sản xuất phân bón sinh học. Ngoài thực tế sản xuất cũng có nhiều hộ gia đình sử dụng bã thải mùn cưa sau trồng nấm ủ hoai mục tự nhiên kéo dài để làm phân bón tuy nhiên hiệu quả không cao.Theo đánh giá sơ bộ, nguyên nhân có thể do bã thải mùn cưa có hàm lượng dinh dưỡng chưa đủ, hoặc mật độ VSV chưa đạt tiêu chuẩn để phân giải các chất hữu cơ cần có phương pháp xử lý thích hợp Sau khi tiến hành khảo sát và nghiên cứu tôi quyết định thực hiện đề tài này để tìm ra 1 quy trình ủ đơn giản, có hiệu quả để xây dựng được quy trình sản xuất phân bón sinh học là việc làm cần thiết và có ý nghĩa cho các cơ sở 1 trồng nấm tạo ra nguồn phân bón sinh học góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Trichoderma được biết là loại nấm có khả năng phân giải Cellulose mạnh.

Xuất phát từ những vấn đề trên tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Phân lập nấm Trichoderma ứng dụng trong xử lý bã thải trồng nấm làm phân bón” 2 PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài.1 Cơ sở lý luận Mỗi chất hữu cơ đều bị một nhóm VSV tương ứng phân hủy một phần hay toàn bộ, các sản phẩm phân hủy này lại bị các loài khác tiếp tục phân hủy tiếp, cứ như thế đến tận các chất vô cơ. Như vậy vật chất luôn luôn được tuần hoàn bởi hai quá trình đối lập nhau: sự tổng hợp chất hữu cơ từ chất vô cơ và sự phân hủy chất hữu cơ thành chất vô cơ. Các quá trình phân hủy này chủ yếu do VSV thực hiện, ở bất kỳ đâu cũng có sự hiện diện của chúng trong đất, trong nước, trong không khí và trong cơ thể của các sinh vật khác.

Trong sản xuất phân bón sinh học, cần lợi dụng sự hoạt động của các VSV ở giai đoạn ủ đống. Các quá trình sinh hóa diễn ra trong đống ủ chủ yếu là do hoạt động của các VSV sử dụng các hợp chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng cho các hoạt động sống của chúng. Các loại VSV như: VSV phân giải cellulose, VSV phân giải tinh bột, VSV phân giải Nitơ,. đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân giải các hợp chất.

Mỗi loại VSV phát triển tối ưu trong một ngưỡng môi trường nhất định nên cần tìm điều kiện môi trường thích hợp nhất để tất cả các VSV có lợi cùng phát triển tốt.2 Cơ sở thực tiễn Theo đánh giá của Cục trồng trọt (Bộ NNPTNN), năm 2014 nhu cầu tiêu thụ phân bón cả nước cần 10,325 triệu tấn phân bón các loại. Trong đó, khả năng sản xuất phân bón trong nước là 8 triệu tấn, còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu. Tuy nhiên, việc nhập khẩu phân bón hiện nay đang gặp nhiều bất cập. Theo Trung tâm khuyến nông quốc gia, một vấn đề hiện nay là Bộ Công Thương lại có nhiệm vụ điều tiết việc nhập khẩu phân bón vô cơ như ure, kali, còn Bộ NN & PTNN lại được giao quản lý và điều tiết lượng phân hữu cơ, tạo nên sự chồng chéo trong điều hành và tính toán lượng phân nhập khẩu.

Liên quan đến vấn đề này, Hiệp hội Phân bón sinh học Việt Nam cho rằng nếu bà con nông dân biết cách tận dụng các chế phẩm trong sản xuất và 3 chăn nuôi làm phân bón sinh học sẽ có thể làm giảm tới 30% lượng phân bón hữu cơ phải nhập khẩu. Hiện nay, trên cả nước có hàng chục doanh nghiệp và hàng nghìn nông hộ tham gia vào sản xuất nấm. Mỗi năm các doanh nghiệp này cũng thải ra hàng nghìn tấn bã thải trồng nấm. Một phần các cơ sở sản xuất này tái sử dụng, một phần bản cho người trồng trọt nhưng ở dạng thổ, chưa qua xử lý nên chất lượng dùng làm phân bón không cao, còn phần lớn bỏ không thái trực tiếp ra ngoài môi trường.

Điều này gây ra lãng phí so với nhu cầu sử dụng phân bón hữu cơ rất lớn đối với nền nông nghiệp đang trên đà phát triển mạnh, đang cần sạch, cần an toàn như hiện nay và tiết kiệm được lượng lớn phân bón nhập khẩu. Tổng quan về phân hữu cơ 1. Khái niệm phân hữu cơ Phân hữu cơ là tên gọi chung của các loại phân được sản xuất từ các vật liệu như: phế phẩm trong nông nghiệp, phân chuồng, phân xanh (bèo, cây họ đậu…), than bùn… Phân hữu cơ chủ yếu gồm hai loại: phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ vi sinh. - Phân hữu cơ sinh học: là loại phân có nguồn gốc hữu cơ được sản xuất bằng công nghệ sinh học (như lên men vi sinh) và phối trộn thêm một số hoạt chất khác để làm tăng độ hữu hiệu của phân, hoặc khi bón vào đất sẽ tạo môi trường cho các quá trình sinh học trong đất diễn ra thuận lợi góp phần làm tăng năng suất cây trồng.

- Phân hữu cơ vi sinh: là chế phẩm phân bón được sản xuất bằng cách dùng các loại vi sinh vật hữu ích cấy vào môi trường là chất hữu cơ (như bột than bùn). Khi bón cho đất các chủng loại vi sinh vật sẽ phát huy vai trò của nó phân giải chất dinh dưỡng khó tiêu thành dễ tiêu cho cây hấp thụ, hoặc hút đạm khí trời để bổ sung cho đất và cây. Sản phẩm phân hữu cơ là quá trình phân huỷ 4 mà trong đó cơ chất liên tục bị phân hủy bởi các quần thể vi sinh vật kế tục nhau. Sản phẩm của sự phân hủy của quần thể vi sinh vật này sẽ làm cơ chất cho quần thể vi sinh vật tiếp theo.

Các quá trình nối tiếp nhau bắt đầu bằng cách phân hủy những phân tử phức tạp trong cơ chất thô thành các dạng đơn giản hơn bởi các vi sinh vật có sẵn trong cơ chất. Ưu nhược điểm của phân hữu cơ  Ưu điểm: - Giảm thiểu ô nhiễm; - Diệt các mầm bệnh nguy hiểm do trong quá trình phân hủy sinh học, nhiệt độ có khi lên đến 70-80°C làm tiêu hủy trứng, ấu trùng, nấm bệnh trong chất thải. Phân sau khi ủ có thể được sử dụng an toàn hơn phân tươi; - Tăng độ ẩm cần thiết cho đất trồng, giảm thiểu sự rửa trôi khoáng chất do các thành phần vô cơ không hòa tan trong phân; - Phân khô ráo, thể tích nhỏ thuận lợi vận chuyển, thu gom.  Nhược điểm: - Phần lớn vi khuẩn bị tiêu diệt nhưng không phải hoàn toàn, đặc biệt khi ủ phân hữu cơ không đồng đều về thời gian, phương pháp, lượng ủ….

Một số mầm bệnh tồn tại có thể gây nguy hiểm cho người dùng; - Thành phần phân ủ thường không ổn định về chất lượng do thành phần nguyên liệu đưa vào không đồng đều; - Phải tốn thêm công ủ và diện tích, việc ủ phân thường ở dạng thủ công và lộ thiên tạo sự phản cảm về mỹ quan và phát tán mùi hôi. Tình hình ứng dụng vi sinh vật xử lí rác thải 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Hiện nay rác thải sinh hoạt và phế phẩm nông nghiệp là một thảm họa khó lường trong sự phát triển mạnh mẽ của quá trình sản xuất, chế biến nông nghiệp. Phế thải nông nghiệp không chỉ làm ô nhiễm môi trường sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, gây độc hại đến sức khỏe con người, vật 5 nuôi và cây trồng mà còn làm mất đi cảnh quan văn hóa đô thị và nông thôn.

Ở các nước phát triển như EU - Mỹ - Úc - Nhật Bản - Singapo đều có hệ thống thu gom và phân loại rác thải gia đình, nơi công cộng ngay cả ở các vùng nông thôn. Sau đó tái chế phần rác thải hữu cơ thành phân bón hữu cơ bón cho cây trồng. Tại nhiều nước đang phát triển của Châu Á như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia cũng đã có nhiều chương trình giáo dục và nghiên cứu khoa học về thu gom rác thải hữu cơ góp phần làm sạch môi trường và tạo nguồn phân bón hữu cơ bằng công nghệ sinh học cho sản xuất nông nghiệp. Tại các nước phát triển - Châu Âu và các nước đang phát triển - Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ đã xây dựng nhiều cơ sở ủ chế biến rác thải hữu cơ sinh hoạt và phế phẩm nông nghiệp bằng công nghệ sinh học để sản xuất phân bón hữu cơ bón cho rau, hoa cây cảnh đem lại lợi ích kinh tế cao.

Ở Úc, Ấn Độ, Thái Lan…đã thu gom tàn dư thực vật trên đồng ruộng dùng chế phẩm vi sinh vật xử lí thành rác thải hữu cơ tại chỗ để trả lại cho đất làm sạch đồng ruộng và chống ô nhiễm môi trường. Ở Đài Loan với công nghệ sản xuất phân hữu cơ từ phế thải mùn rác, phế thải chăn nuôi công suất hàng trăm ngàn tấn/năm (leichu Enterprise Co. Ở Ấn Độ dùng công nghệ vi sinh vật xử lí hèm rượu, bã bùn lọc trong quá trình sản xuất đường để thành phân hữu cơ bón cho cây trồng với công suất hàng chục ngàn tấn/năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ