CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ XỬ LÝ ẢNH, ẢNH Y KHOA VÀ CHẨN ĐOÁN Y HỌC 1. Tổng quan về xử lý ảnh 1. Chẩn đoán bằng hình ảnh 1. Giới thiệu Xử lý ảnh ngày nay đã trở thành một ngành khoa học lớn và đƣợc ứng dụng trong nhiều lĩnh vực thực tiễn.
Với sự phát triển nhanh chóng của ngành khoa học máy tính, thì các vấn đề liên quan tới xử lý, nâng cao chất lƣợng hình ảnh ứng dụng trong các lĩnh vực quan trọng trong nhƣ truyền thông, y học càng đòi hỏi khắt khe hơn. Một trong những vấn đề đƣợc tiếp cận nhiều nhất trong những năm trở lại đây là quá trình thực hiện phân đoạn ảnh. Phân đoạn ảnh giúp ta có thể tách các vùng riêng biệt trong hình ảnh, nhằm mục đích phục vụ cho công tác chẩn đoán một cách chính xác về các bệnh lý thƣờng khó phát hiện trong trong giai đoạn đầu của bệnh lý, gây ra nhiều khó khăn, trong việc phát hiện và điều trị. Trƣớc khi đi sâu vào tìm hiểu một số giải thuật phân đoạn ảnh, trong phần này sẽ trình bày một cách tóm tắt các khái niệm cơ bản của xử lý ảnh, một số chuẩn hình ảnh y khoa và ứng dụng vào chẩn đoán y học.
Tổng quan về xử lý ảnh 1. Giới thiệu về xử lý ảnh Xử lý ảnh là một lĩnh vực mang tính khoa học và công nghệ. Tuy là một ngành khoa học mới mẻ song thu hút đƣợc sự quan tâm rất lớn đến từ các chuyên gia, nhà khoa học và có tốc độ phát triển nhanh chóng, đƣợc ứng dụng rộng rãi trong đời sống. Các phƣơng pháp xử lý ảnh bắt đầu từ những ứng dụng chính nhƣ: nâng cao chất lƣơng ảnh, phân đoạn ảnh, giảm nhiễu v.
Ứng dụng đầu tiên phải nói đến đó là nâng cao chất lƣợng ảnh báo đƣợc truyền qua cáp từ Luân đôn đến NewYork từ những năm 1920. Vấn đề nâng cao chất lƣợng ảnh có liên quan tới phân bố mức C.1 Tổng Quan 1 KS. Nguyễn Thành Công Phân đoạn ảnh sử dụng kỹ thuật đa phân giải THD: PGS. TS Lê Tiến Thƣờng sáng và độ phân giải của ảnh.
Việc nâng cao chất lƣợng ảnh đƣợc phát triển vào những năm thập niên 1950. Điều này có thể giải thích đƣợc vì sau thế chiến thứ 2, máy tính phát triển nhanh chóng tạo điều kiện cho quá trình xử lý ảnh số phát triển thuận lợi. Năm 1964, máy tính đã có khả năng xử lý và nâng cao chất lƣợng ảnh từ mặt trăng và vệ tinh Ranger 7 của Mỹ bao gồm: làm nổi đƣờng biên, lƣu trữ ảnh. Từ năm 1964 đến nay, các công cụ xử lý, nâng cao chất lƣợng ảnh, phân đoạn ảnh, nhận dạng ảnh phát triển không ngừng.
Đề tiếp cận với xử lý ảnh ta cần hình dung đƣợc các bƣớc cần thiết trong xử lý ảnh. Nhƣ đã biết ngày nay có rất nhiều phƣơng pháp thu thập hình ảnh nhƣng phổ biến nhất qua các thiết bị (camera, máy chụp ảnh), nó cũng thể thu đƣợc từ vệ tinh, hoặc thu thập hình ảnh bằng cách sử dụng tia X (CT, X - Quang), tính chất của sóng điện từ (MRI). Quá trình xử lý ảnh Quá trình xử lý ảnh đƣợc xem nhƣ là quá trình thao tác ảnh đầu vào nhằm cho ra kết quả mong muốn. kết quả đầu ra là một quá trình xử lý ảnh có thể là một ảnh tốt hơn hoặc một kết luận.
Ảnh ra (tốt hơn Ảnh vào ảnh gốc) Xử lý ảnh Kết luận Hình 1. Quá trình xử lý ảnh kỹ thuật số. Ta có thể xem hình ảnh kỹ thuật số là tập hợp những điểm ảnh (pixel). Trong đó mỗi điểm ảnh đƣợc xem nhƣ là đặc trƣng cƣờng độ sáng, hay một đặc trƣng nào đó đƣợc biểu diễn nhƣ một hàm n biến P(c1 ,c2 , ,cn ).
Quá trình xử lý ảnh có thể đƣợc trình bày nhƣ hình 1.2 Biểu diễn và mô tả Phân đoạn ảnh Tiền xử lý ảnh Nhận dạng và nội CƠ SỞ TRI THỨC suy Thu nhận Hình 1. Quá trình xử lý ảnh C.1 Tổng Quan 2 KS. Nguyễn Thành Công Phân đoạn ảnh sử dụng kỹ thuật đa phân giải THD: PGS. TS Lê Tiến Thƣờng Thu nhận ảnh: đây là công đoạn đầu tiên mang tính quyết định đối với quá trình xử lý ảnh.
Ảnh đầu vào sẽ đƣợc thu nhận qua các thiết bị nhƣ camera, sensor, máy quét, v.v và sau đó các tín hiệu này sẽ đƣợc số hóa. Các thông số quan trọng ở bƣớc này là độ phân giải, chất lƣợng màu, dung lƣợng bộ nhớ và tốc độ thu nhận Ở bƣớc này ảnh sẽ đƣợc cải thiện về độ tƣơng phản, khử nhiễu, khử bóng, khử độ lệch, v.v nhằm mục đích làm tang chất lƣợng hình ảnh và thƣờng đƣợc thực hiện qua các bộ lọc. Phân đoạn ảnh: là bƣớc then chốt trong xử lý ảnh, giai đoạn này nhằm phân tích ảnh thành những thành phần có cùng tính chất nào đó, dựa theo biên hay các vùng liên thông. Tiêu chuẩn để xác định các vùng liên thông có thể cùng màu, cùng mức xám hay cùng độ xám, v.
mục đích của phân đoạn ảnh là để có một miêu tả tổng hợp từ nhiều phần tử khác nhau cấu tạo nên ảnh thô. Vì lƣợng thông tin chứa trong ảnh rất lớn, trong khi đó đa số các ứng ta chỉ cần quan tâm đến một số đặc trƣng nào đó. Do vậy cần có quá trình giảm lƣợng thông tin. Quá trình này bao gồm phân vùng ảnh và trích chọn đặc tính chủ yếu.
Biểu diễn và mô tả ảnh: kết quả của quá trình phân đoạn ảnh thƣờng đƣợc cho dƣới dạng dữ liệu điểm ảnh thô, trong đó hàm chứa biên của một vùng ảnh, hoặc tập hợp các vùng ảnh thuộc về điểm ảnh đó. Trong cả hai trƣờng hợp sự chuyển đổi dữ liệu thô này thành một dạng thích hợp hơn cho việc xử lý trong máy tính là rất cần thiết. Để chuyển đổi chúng ta cần quan tâm đến biểu diễn một vùng ảnh dƣới dạng biên hay dƣới dạng một vùng hoàn chỉnh gồm tất cả những điểm ảnh thuộc về nó. Biểu diễn dạng biên cho một vùng phù hợp với những ứng dụng chỉ quan tâm chủ yếu tới các đặc trƣng hình dạng bên ngoài của đối tƣợng, ví nhƣ góc cạnh hay các điểm uốn trên biên.
Biểu diện dạng vùng lại thích hợp cho những ứng dụng khai thác các tính chất bên trong của đối tƣợng, ví dụ nhƣ vân ảnh hay cấu trúc xƣơng của nó. Sự lựa chọn cách biểu diễn thích hợp cho một vùng ảnh chỉ mới là một phần trong việc chuyển đổi dữ liệu ảnh thô sang một dạng thích hợp hơn cho những xử lý về sau. Ta phải đƣa ra một phƣơng pháp mô tả dữ liệu và đã đƣợc chuyển đổi sao cho những tính chất cần quan tâm đến sẽ đƣợc làm nỗi bật lên, thuận tiện cho việc xử lý. Nhận dạng và nội suy: đây là bƣớc cuối cùng trong quá trình xử lý ảnh.
Nhận dạng ảnh có thể đƣợc nhìn nhận một cách đơn giản là việc gán nhãn C.1 Tổng Quan 3 KS. Nguyễn Thành Công Phân đoạn ảnh sử dụng kỹ thuật đa phân giải THD: PGS. TS Lê Tiến Thƣờng cho các đối tƣợng trong ảnh. Nội suy là công đoạn gán nghĩa cho một tập các đối tƣợng đã đƣợc nhận biết.
Ta có thể thấy rằng, không phải bất kỳ một ứng dụng xử lý ảnh nào cũng bắt buộc phải tuân theo các bƣớc xử lý đã nêu ở trên, ví dụ nhƣ các ứng dụng chỉnh sửa ảnh nghệ thuật thì chỉ dừng lại ở bƣớc tiền xử lý. Một cách tổng quát thì những chức năng xử lý bao gồm cả nhận dạng và nội suy thƣờng chỉ có mặt trong hệ thống phân tích ảnh tự động hoặc bán tự động, đƣợc dùng để rút trích ra những thông tin quan trọng từ ảnh, ví dụ nhƣ các ứng dụng nhận dạng lý tự quang học, nhận dạng chữ viết tay v. Một số khái niệm cơ bản 1. Điểm ảnh (Pixel) Ảnh trong thực tế là một ảnh liên tục về không gian và giá trị độ sáng.
Để có thể xử lý ảnh bằng máy tính cần phải tiến hành số hóa ảnh. Trong quá trình số hóa, ngƣời ta biến đổi tín hiệu liên tục sang tiến hiệu rời rạc thông qua quá trình lấy mẫu (rời rạc hóa về không gian) và lƣợng hóa thành phần giá trị mà về nguyên tắc bằng mắt thƣờng không phân biệt đƣợc hai điểm kề nhau. Trong quá trình này ngƣời ta sử dụng khái niệm Picture element mà ta quen gọi là Pixel (phần tử ảnh). Nhƣ vậy là một ảnh là tập hợp các Pixel.
Mức xám (Gray level) Mức xám là kết quả của sự mã hóa tƣơng ứng một cƣờng độ sáng của mỗi điểm ảnh với một giá trị sáng, kết quả của quá trình lƣợng tử hóa. Cách mã hóa thƣờng dùng là 16, 32, hay 64 mức. phổ biến nhất là mã hóa ở mức 256, ở mức này mỗi Pixel sẽ đƣợc mã hóa bởi 8 bít. Biên Biên là một đặc tính rất quan trọng của đối tƣợng trong ảnh, nhờ vào biên mà ta có thể phân biệt đƣợc đối tƣợng này với đối tƣợng kia.
Một điểm ảnh có thể gọi là điểm biên nếu ở đó có sự thay đổi đột ngột về mức xám tập hợp các điểm biên gọi là biên hay còn gọi là đƣờng bao ảnh. Láng giềng Trong xử lý ảnh có một khái niệm rất quan trọng, đó là khái niệm láng giềng, có hai loại láng giềng: 4 láng giềng và 8 láng giềng. 4 láng giềng của một điểm ảnh ( x, y) là tập hợp bao gồm láng giềng dọc và láng giềng ngang của nó C.1 Tổng Quan 4 KS. Nguyễn Thành Công Phân đoạn ảnh sử dụng kỹ thuật đa phân giải THD: PGS.
TS Lê Tiến Thƣờng N4 ( x, y) ( x 1, y), ( x 1, y),( x, y 1),( x, y 1) (1.1) 8 láng giềng của ( x, y) là một tập cha của 4 láng giềng và bao gồm láng giềng ngang, dọc và chéo: N8 ( x, y) N4 ( x, y) ( x 1, y 1), ( x 1, y 1),( x 1, y 1),( x 1, y 1) (1. Vùng liên thông Một vùng R đƣợc gọi là liên thông nếu bất kỳ hai điểm ( xA , y A ) và ( xB , yB ) thuộc vào R có thể đƣợc nối bởi một đƣờng ( xA , yB ) ( xi 1 , yi 1 ),( xi , yi ),( xi 1, yi 1 ) ( xB , yB ) , mà các điểm ( xi , yi ) thuộc vào R và bất kỳ ( xi , yi ) nào đều kề sát với điểm trƣớc ( xi 1 , yi 1 ) và điểm tiếp theo ( xi 1 , yi 1 ) trên đƣờng đó.