Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG 1.1 QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT TỐ TUNG HÌNH SỰ HIỆN HANH VỀ TƯ CÁCH NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG Trong một vụ án hình sự, người phạm tội bao giờ cũng hướng tới một đối tượng tác động nhất định đã gây thiệt hại hoặc de doa gây thiệt hai cho đối tượng tác động đó. Bất cứ tội phạm nào cũng làm biến đổi tình trạng bình thường của những đối tượng tác động cụ thể. Khi đối tượng tác động là con người, người phạm tội đã gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự. Khi đối tượng tác động là tài sản, người phạm tội đã làm biến đổi tình trạng bình thường của tài sản một cách trái pháp luật bằng các hành vi chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng, huỷ hoại hoặc làm hư hỏng.
Hậu quả làm cho tài sản bị mất, bị hư hỏng, giảm sút giá trị sử dụng. Khi giải quyết một vụ án hình sự, nếu có sự thiệt hại là tính mạng, sức khoẻ, danh dự của con người hoặc tài sản của cá nhân, tổ chức thì nhiệm vụ của CQTHTT không chỉ dừng lại ở việc làm sáng tỏ vụ án, xử phạt người phạm tội mà còn phải giải quyết vấn đề dân sự liên quan tới lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức đã bị thiệt hại. Đây thực chất là quan hệ pháp luật dân sự. Cụ thể là quan hệ pháp luật bồi thường ngoài hợp đồng.
Nhưng quan hệ pháp luật này không phát sinh từ những giao dịch dân sự trước đó mà chỉ xuất hiện khi có hành vi trai pháp luật của người phạm tội gây thiệt hai tới tính mạng, sức khoẻ, đanh dự, nhân phẩm của cá nhân, tài sản của cá nhân, tổ chức. Đây là chế định pháp luật dân sự được giải quyết bằng pháp luật tố tụng hình sự [30, tr 30]. Trong quan hệ bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra: Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường, yêu cầu trả lại tài sản là người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người này. Bên có trách nhiệm phải bồi thường, phải trả lại tài sản là bị can bị cáo, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của những người này.
Thực tế việc giải quyết một vụ án hình sự đã không ít xảy ra sự nhầm lẫn trong việc xác định tư cách giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo. Trước khi đưa ra dấu hiệu phân biệt tư cách tham gia tố tụng giữa các cặp thường có sự nhầm lẫn trong thực tế, chúng ta tìm hiểu những quy định của pháp luật hiện hành về tư cách của những NTGTT này.1 Người bị hại: Điều 51 — BLTTHS quy định: “Người bị hai là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Người bi hại phải là một con người cụ thể, họ là đối tượng bị tội phạm gây thiệt hại hoặc de doa gây thiệt hại. Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về sức khoẻ (do bị gây thương tích, gây tai nạn, bị người phạm tội vi phạm quy tắc về nghề nghiệp gây ra.) cũng có thể bị thiệt hại về tính mạng (bị giết, bị gây tai nạn .), thiệt hại về tỉnh thần (như bị lăng nhục, bị xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm.
Do đó trong khoa học luật hình sự coi người bi hại là đối tượng tác động của tội phạm [10, tr 2]. Người bị hại không những bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ mà còn bị thiệt hại về tài sản (trong nhóm tội xâm phạm sở hữu). Luật Tố tụng hình sự Việt Nam chỉ coi con người cụ thể là người bị hại. Cũng là những thiệt hại về tài sản, nhưng nếu người bị thiệt hại là cá nhân thì họ được coi là người bị hại.
Còn nếu là cơ quan, tổ chức thì họ được coi là nguyên đơn dân sự. Các văn bản pháp luật trước đây cũng đã xác định cụ thể, rõ ràng về người bị hại. Khái niệm về người bị hại cũng giống như khái niệm được quy định trong BLTTHS hiện hành. Song cũng giải thích rõ hơn người bị hại là người đã can thiệp để ngăn cản bị cáo đánh, giết người khác nhưng bản thân cũng bị người phạm tội gây thương tích hoặc người có nhà cửa bị cháy vì bị cáo đốt nhà của người khác nhưng đám cháy đã lan sang nhà của họ [35].
Để xác định là người bị hại thì thiệt hại mà tội phạm đã gây ra phải là thiệt hại trực tiếp. Điều đó được thể hiện: Thể chất, tinh thần hoặc tài sản phải là đối tượng của sự xâm hại. Nếu đối tượng tác động chưa bị xâm hại thì không có thiệt hại xảy ra. Đã không có thiệt hại xảy ra thì cũng không có người bị hai.
Nhung thiệt hại xảy ra phải là hậu qua của hành vi phạm tội thì mới được coi là thiệt hại trực tiếp. Tuy nhiên trên thực tế trong nhiều trường hợp, việc xác định “thiệt hại trực tiếp” không phải lúc nào cũng dễ dàng, mà rất khó xác định, nên dễ dẫn đến việc xác định sai tư cách của NTGTT. Thực tế, nếu xác định là “thiệt hại trực tiếp” thì người bị thiệt hại trực tiếp được CQTHTT xác định là người bị hại. Còn nếu thiệt hại xảy ra không có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội (hay thiệt hại gián tiếp) thì người bị thiệt hại đó được CQTHTT xác định là nguyên don dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án BLTTHS không đưa ra khái niệm về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vu án.
Khoản 4 Điều 56 — BLTTDS quy định: "người có quyền lợi, nghĩa vụ hiên quan đến vụ án là người mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ". Vì vậy, khái niệm này cũng có thể áp dụng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong vụ án hình sự (vì cùng có nội dung giống nhau). Khi giải quyết vụ án dân sự hay hình sự đều có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên cũng có thể hiểu họ là người mà quyền lợi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định của/CQTHTT. Day là hai tư cách tố tụng được quy định trong cùng một điều luật vì một người không thể tham gia cùng một lúc với cả hai tư cách.
Họ là người có quyền lợi hoặc là người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Thực tế thường có sự nhầm lẫn giữa người có quyền lợi liên quan đến vụ án và người bị hại, nguyên đơn dân sự. Nhầm lẫn giữa người nghĩa vụ liên quan đến vụ án và bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp của bị can,bi cáo Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có thể là người tham gia vào việc thực hiện tội phạm nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự. Hoặc là người không liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhưng các CQTHTT phải xử lý theo pháp luật những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.3 Nguyên don dan sự Điều 52 - BLTTHS quy định: “Nguyên don dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hai’’.
Nguyên đơn dân sự trước hết là cá nhân khi người đó bị thiệt hại về tài sản. Nhưng tài sản này không phải là đôi tượng mà người phạm tội nhằm tác động tới và không phù hợp với mục đích của họ. Ví du: A và B đánh nhau trong quán ăn đã làm đổ vỡ chiếc ti vi của C. C sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự khi có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Rõ ràng chiếc ti vi của C bi hu hỏng không phải là đối tượng mà A nhằm hướng tới. Mục đích của A là gây thương tích cho B. Trong vụ án này B được xác định là người bị hai, còn C tham gia với tư cách nguyên đơn dân sự. Cá nhân là nguyên đơn dân sự còn là người không bị người phạm tội trực tiếp xâm hại nhưng bị thiệt hại do tội phạm gây ra như: - Một người bi người phạm tội xâm phạm đến sức khoẻ nên người trong gia đình phải nghỉ việc để chăm sóc vì vậy người này bị giảm thu nhập họ có quyền đòi bồi thường phần thu nhập bi mất do nghỉ việc.
- Nếu nạn nhân chết thì người mà nạn nhân đã nuôi dưỡng, trợ cấp khi còn sống có quyền đòi bồi thường vì thu nhập bi mất hoặc giảm sút do không còn sự giúp đỡ của người đã chết. Theo hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao thì trong trường hợp người bị hại chỉ kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại trong bản án, quyết định của CQTHTT thì họ có thể uỷ quyền cho người khác. Người được uỷ quyền có các quyền và nghĩa vụ như người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự [38]. Như vậy người được người bị hại uỷ quyền kháng cáo (nếu chỉ kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại) có thể tham gia tố tụng như người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự.
Ngoài ra nguyên đơn dân sự còn có thể là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra. Ví dụ: Tài sản của cơ quan, tổ chức bị trộm cắp, tham ô, huỷ hoại. Song để được công nhận là nguyên đơn dân sự thì cơ quan, tổ chức phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hai. Các văn bản pháp luật trước đây cũng đã đề cập tới nguyên đơn dân sự nhưng với tên gọi “dân sự nguyên cáo” [34].
Trong bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm kèm theo thông tư số 16/TATC có đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm nguyên đơn dân sự. Đó là: - Cơ quan, xí nghiệp, hợp tác hoặc các đoàn thể xã hội đã bị người phạm tội xâm phạm đến tài sản (tham ô, trộm cắp, lừa đảo .