Luận án tiến sĩ thực trạng ô nhiễm asen trong thực phẩm tóc tại 6 xã ven sông hồng tỉnh thái bình và hiệu quả một số biện pháp can thiệp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng ô nhiễm asen trong thực phẩm tóc tại 6 xã ven sông hồng tỉnh thái bình và hiệu quả một, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Vệ sinh XHH và TCYT

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2023

192
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương về Asen

1.1.1. Khái niệm về Asen và các dạng tồn tại của Asen

1.2. Độc tính của Asen

1.3. Nguồn gây ô nhiễm Asen

1.3.1. Ô nhiễm Asen từ thiên nhiên

1.3.2. Ô nhiễm Asen từ hoạt động nhân tạo

2. ĐẶT VẤN ĐỀ

3. MỤC LỤC

3.1. ĐẶT VẤN ĐỀ

3.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. DANH MỤC BẢNG

2. DANH MỤC BIỂU ĐỒ

3. DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Thực trạng ô nhiễm asen tại Thái Bình

Ô nhiễm asen trong thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm tóc, tại tỉnh Thái Bình đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Nghiên cứu cho thấy nồng độ asen trong nước và thực phẩm tại các xã ven sông Hồng vượt quá giới hạn cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Theo số liệu thu thập, tỷ lệ thực phẩm nhiễm độc như cá, rau, củ, quả có hàm lượng asen cao, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Các yếu tố như thói quen canh tác, sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, và ô nhiễm từ các khu công nghiệp đã góp phần làm gia tăng tình trạng này. Đặc biệt, tóc người dân cũng cho thấy mức độ tồn dư asen đáng kể, cho thấy sự tích lũy của chất độc này trong cơ thể. Việc đánh giá thực trạng ô nhiễm asen là cần thiết để có những biện pháp can thiệp kịp thời.

1.1. Nguy cơ asen đối với sức khỏe

Nguy cơ từ asen đối với sức khỏe con người là rất lớn. Asen được biết đến là một chất độc có thể gây ra nhiều bệnh lý nghiêm trọng, bao gồm ung thư và các bệnh mãn tính khác. Nghiên cứu cho thấy, việc tiếp xúc lâu dài với asen có thể dẫn đến các triệu chứng như đau bụng, tiêu chảy, và các vấn đề về da. Đặc biệt, tóc là một chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ phơi nhiễm asen trong cơ thể. Việc phát hiện asen trong tóc không chỉ phản ánh tình trạng ô nhiễm mà còn cho thấy sự tích lũy của chất độc này trong cơ thể. Do đó, việc theo dõi và kiểm soát mức độ asen trong thực phẩm và tóc là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

II. Biện pháp can thiệp

Để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm asen trong thực phẩm và tóc, cần thực hiện các biện pháp can thiệp hiệu quả. Một trong những biện pháp quan trọng là nâng cao nhận thức của người dân về nguy cơ từ asen. Các chương trình giáo dục truyền thông có thể giúp người dân hiểu rõ hơn về nguồn gốc và tác hại của asen. Bên cạnh đó, việc kiểm soát chất lượng thực phẩm cũng cần được thực hiện nghiêm ngặt. Các cơ quan chức năng cần thiết lập các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, đồng thời tăng cường kiểm tra và giám sát các sản phẩm thực phẩm trên thị trường. Ngoài ra, việc khuyến khích người dân sử dụng các phương pháp canh tác an toàn, hạn chế sử dụng hóa chất độc hại cũng là một giải pháp hiệu quả.

2.1. Giáo dục và truyền thông

Giáo dục và truyền thông là một trong những biện pháp can thiệp quan trọng nhằm giảm thiểu ô nhiễm asen. Các chương trình truyền thông có thể giúp nâng cao nhận thức của người dân về nguy cơ từ asen và cách phòng tránh. Việc tổ chức các buổi hội thảo, phát tờ rơi, và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để cung cấp thông tin về asen sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về tác hại của chất độc này. Đồng thời, việc khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường cũng sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm. Các biện pháp giáo dục cần được thực hiện thường xuyên và liên tục để đảm bảo người dân luôn được cập nhật thông tin mới nhất về asen.

III. Đánh giá hiệu quả can thiệp

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp là rất quan trọng để xác định tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp đã thực hiện. Các nghiên cứu cho thấy, sau khi thực hiện các biện pháp giáo dục và truyền thông, nhận thức của người dân về asen đã được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ người dân biết đến các nguồn thực phẩm có nguy cơ nhiễm asen đã tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, việc kiểm tra hàm lượng asen trong thực phẩm và tóc cũng cho thấy sự giảm thiểu đáng kể. Điều này chứng tỏ rằng các biện pháp can thiệp đã phát huy hiệu quả trong việc giảm thiểu ô nhiễm asen và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

3.1. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp, mức độ nhiễm asen trong thực phẩm và tóc đã giảm đáng kể. Các số liệu thu thập cho thấy tỷ lệ thực phẩm nhiễm asen đã giảm từ 30% xuống còn 15%. Đặc biệt, hàm lượng asen trong tóc người dân cũng giảm rõ rệt, cho thấy sự tích lũy của chất độc này trong cơ thể đã được kiểm soát. Những kết quả này không chỉ phản ánh hiệu quả của các biện pháp can thiệp mà còn khẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc phòng chống ô nhiễm asen.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về Asen 1. Khái niệm về Asen và các dạng tồn tại của Asen Asen được biết đến với tên gọi dân gian khác là “thạch tín”, là một nguyên tố hóa học có số nguyên tử là 33, kí hiệu hóa học là As. Asen có nhiều dạng thù hình như màu vàng và một vài dạng ít gặp có màu đen, xám.

Ở dạng tinh khiết Asen có màu trắng không mùi, vị hơi ngọt, ít tan trong nước [17]. Asen tồn tại ở hai dạng là hợp chất vô cơ và hợp chất hữu cơ. Cả 2 dạng hợp chất, đặc biệt là Asen vô cơ đều tồn tại trong môi trường và nồng độ của nó tùy vào mức độ ô nhiễm môi trường, từ đó quyết định xem nó có ảnh hưởng tới sức khỏe con người hay không [18]. Hợp chất Asen vô cơ: Asen vô cơ là các muối của Asen với các nguyên tố khác, trừ carbon.

Asen vô cơ hầu hết được tìm thấy ở dạng hòa tan trong đất và nước. Asen có mặt ở trong cả nước ngầm và nước mặt, do thấm qua nhiều tầng địa chất khác nhau, nước ngầm thường chứa Asen nhiều hơn nước mặt. Trong nước, Asen là hóa chất không màu, không mùi, không vị nên bằng mắt thường không thể nhận biết được nguồn nước nhiễm asen. Trong nước ngầm, Asen xuất hiện chủ yếu ở hai dạng là asenit (III) và asenat (V).

Asen vô cơ làm tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong khi hấp thụ một lượng lớn hoặc tích tụ ở nồng độ thấp trong thời gian dài. Hợp chất Asen hữu cơ: Các dạng Asen hữu cơ gồm metyl-, dimetyl-, trimetyl-asenic thường tìm thấy trong mô của các loài động vật có vú; asenobetan thường tìm thấy trong cá và hải sản; asenocholin, asenosugar, asenolipid thường có trong thực vật. Asen hữu cơ rất dễ hấp thụ nhưng không tích tụ trong cơ thể người mà tự đào thải ra ngoài sau 1 đến 2 ngày. Độc tính của Asen Asen được WHO xếp vào nhóm độc loại A cùng với Hg, Pb, Se, Cd, As bởi Asen tự do cũng như hợp chất của nó rất độc.

Trong hợp chất thì hợp chất của As (III) là độc nhất. Những người bị nhiễm Asen có tỷ lệ đột biến nhiễm sắc thể rất cao. Ngoài việc gây nhiễm độc cấp tính Asen còn gây độc mãn tính do tích lũy trong gan với mức độ khác nhau, liều gây tử vong là 0,1g (tính theo As2O3). Đối với sức khỏe con người, Asen ở dạng hợp chất vô cơ với một lượng lớn có thể gây chết người, ở mức độ nhẹ hơn có thể gây tổn thương mô hay các hệ thống của cơ thể.

Đặc biệt Asen có thể gây ra 19 các loại bệnh khác nhau, trong đó có những bệnh nan y như ung thư da, ung thư phổi. Con đường gây độc chính của Asen vào cơ thể con người là qua đường thức ăn, nước uống, ngoài ra một lượng nhỏ qua đường không khí. Khi cơ thể bị nhiễm độc Asen, tuỳ theo mức độ và thời gian tiếp xúc sẽ biểu hiện những triệu chứng với những tác hại khác nhau [19], chia ra làm hai loại sau: Nhiễm độc cấp tính Tình trạng này thường xảy ra khi hấp thụ một lượng lớn Asen qua đường tiêu hoá hoặc hô hấp. Các triệu chứng xuất hiện sau nửa giờ hay sau nhiều giờ kể từ khi Asen vào cơ thể là: Khô miệng, kèm theo khó nuốt.

Đau bụng dữ dội, nôn rồi tiêu chảy. Phân có nhiều hạt như hạt gạo lẫn máu kiểu trong bệnh tả. Bệnh nhân ở trong tình trạng mất nước, đái ít, thân nhiệt và huyết áp giảm thường có viêm ống thận cấp kèm theo. Chuột rút và co giật.

Tử vong có thể xuất hiện 24 giờ, nhưng nói chung tình trạng bệnh nhân xấu đi kéo dài 3 - 7 ngày. Nếu sống sót, sự phục hồi rất chậm sau nhiều ngày hay nhiều tháng. Khi khỏi, móng tay có vân khía ngang, trong nước tiểu có hồng cầu, protein do thận chưa hồi phục. Nhiễm độc mãn tính Nhiễm độc Asen mãn tính có thể gây ra các tác dụng toàn thân và cục bộ, biểu hiện ở các dấu hiệu chủ quan đầu tiên như khó chịu, đau bụng, các cơn 6 ngứa, đau các khớp, suy nhược.

Tổn thương ngoài da như ban đỏ, sần và mụn nước, các tổn thương kiểu loét nhất là ở các phần da hở, tăng sừng hoá gan bàn tay và bàn chân, nhiễm sắc (đen da do Asen), các vân trắng ở móng (gọi là đám vân Mees). Tổn thương niêm mạc như viêm kết giác mạc, kích ứng các đường hô hấp trên, viêm niêm mạc hô hấp, có thể làm thủng vách ngăn mũi. Các triệu chứng về tiêu hóa như buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy và táo bón luân phiên nhau, loét dạ dày. Các triệu chứng thần kinh với các các biểu hiện như cảm giác tê cóng, bỏng da, kiến bò hoặc ngứa kèm theo run, co giật cơ, teo cơ, liệt chi, viêm nhiều dây thần kinh gây liệt hoặc rối loạn cảm giác.

Gan thoái hoá mỡ, suy gan, suy thận; ung thư da, phổi, xương đều có thể xảy ra khi tiếp xúc thường xuyên với Asen và trong thời gian dài. Nguồn gây ô nhiễm Asen 1. Ô nhiễm Asen từ thiên nhiên Một trong số các nguồn gây ô nhiễm Asen đến từ tự nhiên, đó là các khoáng vật trong các lớp đất đá trầm tích. Đây là một nguyên nhân phổ biến dẫn tới tình trạng ô nhiễm Asen trong nước ngầm, khi mà có sự tương tác qua lại giữa các vật liệu trầm tích với nước ngầm trong các điều kiện môi trường nhất định.

Ở một số khu vực trên thế giới, nước ngầm có hàm lượng Asen rất cao do lớp trầm tích có cấu trúc, thành phần hoá học thuận lợi cho việc hoà tan Asen từ trầm tích ra tầng chứa nước. Hiện tượng này được phát hiện tại các khu vực đồng bằng châu thổ thấp trũng, xảy ra lụt lội hàng năm, dòng chảy thuỷ văn chậm, các lớp trầm tích bồi lắng trẻ thiếu ôxy (mang tính khử) [20]. Asen trong nước ngầm có thể được chia ra làm ba đới oxi hóa khử khác nhau [21]: Đới nông: đới oxi hóa với sự có mặt của oxi hòa tan, mà trong đó, các oxit và hydroxit sắt tồn tại ổn định và Asen được hấp thụ trên bề mặt của chúng. Hàm lượng Asen trong đới này thường thấp.

7 Đới trung bình: đới khử vừa phải hầu như không có mặt oxi hòa tan mà tại đây các oxit và hydroxit sắt đã trải qua quá trình phân hủy, Asen được giải phóng ra khỏi bề mặt của chúng. Đới sâu: đới khử hoàn toàn, nơi mà gốc sulphat (SO42-) bị khử thành H2S. Tại đây, Asen có thể đồng thời kết tủa với các khoáng vật sulphides thứ sinh như pyrite. Nếu hàm lượng sulphat trong nước thấp sẽ không có sự tái lắng đọng của các khoáng vật thứ sinh, và khi đó hàm lượng Asen trong nước ngầm sẽ tăng lên.

Trong điều kiện khử, Asen bị bòa tan và giải phóng khỏi các keo sắt hoặc các vật liệu mà nó bị hấp thụ vào nước ngầm do sự phân hủy các vật chất hữu cơ dưới tác động của các nhóm sinh vật có sẵn trong đất đá. Đây được coi là quá trình chính của sự giải phóng và di chuyển Asen từ trầm tích vào nước ngầm. Không chỉ từ đất đá, trầm tích, Asen còn từ nguồn không khí ô nhiễm di chuyển theo gió, nước mưa di chuyển vào và tích tụ trong nguồn nước. Hoạt động của núi lửa là một nguồn ô nhiễm Asen tự nhiên lớn [22], [23].

Ô nhiễm Asen từ hoạt động nhân tạo Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, xã hội công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng bao phủ, vì vậy, một số yếu tố nguy cơ ô nhiễm Asen nữa đến từ chính các hoạt động công nghiệp của con người. Asen được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều các ngành công nghiệp. Asen được sử dụng trong công nghiệp sản xuất phân bón (lân - photpho, đạm - nito) với thành phần trong đá photphate, đá vôi. Asen được sử dụng rộng rãi trong sản xuất các hóa chất như thuốc bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuộc diệt côn trùng, hay các chất làm khô (sản xuất bông), bảo quản (bảo quản gỗ, bảo quản thực phẩm), các phụ gia thực phẩm với nguyên liệu chính là arsenic trioxit.

Đây là một số nguyên nhân khiến Asen tồn dư lượng lớn trong đất trồng, nước ngầm, nước sinh hoạt [24]. 8 Các ngành công nghiệp khai thác quặng, nhất là quặng sunfua, luyện kim tạo ra nguồn ô nhiễm Asen. Việc khai đào ở các mỏ nguyên sinh đã phơi lộ các quặng sunfua, làm gia tăng quá trình phong hóa, bào mòn và tạo ra khối lượng lớn đất đá thải có lẫn Asenopyrit ở lân cận khu mỏ. Tại các nhà máy tuyển quặng, Asenopyrit được tách ra khỏi các khoáng vật có ích và phơi ra không khí.

Asenopyrit bị rửa lũa, dẫn đến hậu quả là một lượng lớn Asen theo dòng chảy lan tràn ra sông suối và các vùng đất xung quanh. Những người khai thác tự do khi đãi quặng đã thêm vào axit sunphuric, xăng dầu, chất tẩy. Asenopyrit sau khi tách khỏi quặng sẽ thành chất thải trôi vào sông suối, gây ô nhiễm tràn lan [25]. Asen cũng được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp kính, luyện kim màu hay công nghiệp bán dẫn, hay trong quá trình nóng chảy kim loại màu và sản xuất năng lượng từ dầu mỏ như hoạt động luyện đồng, đốt than đá, cơ khí… dẫn đến ô nhiễm Asen trong không khí, đất và nước, Asen cháy trong không khí tạo thành khói trắng trioxit arsen rất độc hại.

Quá trình đốt cháy để tạo ra năng lượng trong hoạt động giao thông vận tải với nhiên liệu là xăng, dầu hay than đá cũng thải ra môi trường lượng Asen rất lớn [22], [26]. Nền nông nghiệp hiện nay, các hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng rất phổ biến, từ phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt côn trùng, tới thuốc kích thích tăng trưởng,. Trong các hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật này ít hay nhiều đều có chứa thành phần Asen và hợp chất của nó. Trải qua quá trình dài sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật và phân bón chứa Asen đã dẫn đến tình trạng nhiễm Asen trong đất, trong nước trầm trọng hơn [22], [27].

Cơ chế hấp thụ Asen từ thực phẩm vào cơ thể con người 1. Ô nhiễm Asen vào thực phẩm Ô nhiễm Asen vào thực phẩm từ thiên nhiên là do các quá trình địa chất và trầm tích tạo nên dưới tác động của các quá trình như: quá trình ôxy hoá, quá trình khử, quá trình sinh hoá và sự giải phóng, di chuyển Asen từ lớp đất đá, trầm tích vào nước ngầm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Ô nhiễm asen trong thực phẩm tóc tại Thái Bình: Thực trạng và biện pháp can thiệp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng ô nhiễm asen trong thực phẩm tại Thái Bình, một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Tác giả phân tích nguyên nhân, mức độ ô nhiễm và những tác động tiêu cực của asen đối với sức khỏe con người, đồng thời đề xuất các biện pháp can thiệp hiệu quả nhằm giảm thiểu rủi ro. Bài viết không chỉ nâng cao nhận thức về ô nhiễm asen mà còn khuyến khích các hành động cụ thể để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến môi trường và sức khỏe, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La, nơi đề cập đến các bệnh ký sinh trùng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật tại kho thuốc Hòn Trơ xã Diễn Yên huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An và đề xuất giải pháp xử lý cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ô nhiễm hóa chất trong nông nghiệp. Cuối cùng, bài viết Luận văn đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn phường Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên sẽ cung cấp thông tin bổ ích về chất lượng nước sinh hoạt, một yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.