Chương 1 giới thiêu khái quát chung về vấn đề nghiên cứu, nêu ra tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. 14 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. KHÁI NIỆM TIỀN CÔNG LAO ĐỘNG 2. Khái niệm Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các học thuyết về tiền công được xây dựng trên các mô hình kinh tế.
Theo lý thuyết của của các nhà kinh tế cổ điển như Adam Smith, David Ricardo đều cho rằng tiền công là những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người công nhân và gia đình của họ. Với học thuyết của Karl Marx lại cho rằng bản chất của tiền lương là giá cả hay giá trị sức lao động chứ không phải là giá cả của lao động. Có thể nói, tiền lương là giá cả mà sức lao động bỏ ra. Dựa trên cơ sở học thuyết các bên có liên quan thì trong quan hệ lao động, thuyết tiền công được xây dựng trên cơ sở tiến hành đối thoại, thương lượng và thỏa thuận các vấn đề liên quan trong vấn đề lao động, đặc biệt là vấn đề tiền công.
Tiền công ở đây có thể hiểu là giá cả sức lao động và sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động, sự thỏa thuận này bao gồm là thỏa thuận cá nhân hoặc thỏa thuận tập thể. Với cách tiếp cận tiền công là tư bản ứng trước đầu tư vào vốn con người, Garry Becker (1993) “cho rằng trình độ cao hơn sẽ tạo ra mức năng suất lao động cao hơn, năng suất lao động cá nhân sẽ quyết định mức tiền lương của họ. Đây là nguyên tắc cao nhất của tiền công trong kinh tế thị trường”. Hiệu quả đầu tư vào con người thông qua giáo dục, đào tạo được đo bằng mức thu nhập do trình độ tay nghề mang lại.
Nếu muốn thu nhập cao thì cần phải đầu tư vào nguồn nhân lực hiện tại và đặc biệt là đầu tư cho giáo dục, đào tạo. Theo NXB Khoa học và kĩ thuật Hà Nội (1996) “khái niệm tiền lương, giá cả lao động và thu nhập từ công ăn việc làm là những khái niệm đồng nghĩa, được gọi chung là giá cả sức lao động, là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất”. Như vậy, bản chất của tiền lương là giá cả sức 15 lao động, đều gắn với quan hệ lao động và đều phụ thuộc vào quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động. Với nền kinh tế thị trường phát triển thì bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động và bị chi phối bởi các quy luật của thị trường.
Phương pháp trả công lao động Để nghiên cứu khái niệm phương pháp trả công lao động, trước hết chúng ta nghiên cứu khái niệm phương pháp. Theo phương pháp luận, phương pháp là một hệ thống cách thức, thao tác… được sử dụng bởi chủ thể nhằm đạt mục đích nhất định nào đó- đây là cách tiếp cận thuật ngữ phương pháp phổ thông nhất và luôn đi liền với các hoạt động có mục đích của chủ thể, đây chính là cách thức, biện pháp thực hiện con đường dẫn đến mục đích đề ra. Theo Hy Lạp, phương pháp có nghĩa là “Methodos – là con đường dẫn đến chân lý”, có nội hàm chỉ cách thức dẫn đến mục tiêu. Còn có thể hiểu “phương pháp là lề lối, cách thức phải theo để tiến hành công việc với kết quả tốt nhất”.
Như vậy có thể nói phương pháp là cách diễn ra thao tác, hành động để thực hiện công việc với mục đích nào đó. Từ khái niệm phương pháp trên ta có thể hiểu: Phương pháp trả công lao động là cách thức tiến hành tính toán số lượng tiền để trả lương cho người lao động nhằm đạt mục tiêu đề ra. Trước hết, phương pháp trả công lao động là cách tính trả công cho người lao động trong một tổ chức. Nói một cách khác, đây là cách sử dụng để tiến hành tính lương cho người lao động.
Cách tính này dựa trên quan điểm trả công đã được lựa chọn và phù hợp với từng đối tượng người lao động. Song hành với các cách tính trả công là biện pháp tiến hành để trả công cho từng đối tượng người lao động trong DN, tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Để hiểu rõ về phương pháp trả công lao động cần phân biệt phương pháp trả công lao động với các thuật ngữ khác như: căn cứ trả lương, hình thức trả lương, phương án trả lương, cách thức trả lương. Về căn cứ trả công lao động là cơ sở, nền tảng để trả công, trả lương cho người lao động.
Khi đề cập đến thuật ngữ trả công lao động, người ta không chú ý đến quy 16 trình tính trả lương, cũng không đề cập đến mục tiêu cần đạt được, điều kiện để thực hiện trả công. Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa khái niệm phương pháp trả công lao động với khái niệm căn cứ trả công lao động. Về hình thức trả công lao động, theo nghĩa rộng là cách thể hiện bề ngoài của việc trả lương cho người lao động theo sản phẩm hoặc theo thời gian, theo nghĩa hẹp đó là cách tiến hành trả lương cho người lao động gắn với số lượng và chất lượng sản phẩm do họ hoàn thành, gắn với thời gian làm việc của người lao động. Sản phẩm dùng để trả lương ở đây là những sản phẩm chi tiết, sản phẩm mang hình thái hiện vật dễ dàng xác định được.
Như vậy, theo nghĩa hẹp thì đó là một trong những biện pháp tính trả công cho người lao động. Nhưng, nếu theo nghĩa rộng, thì hình thức trả công lao động chỉ thể hiện qua vỏ bề ngoài của việc trả lương hay chỉ quan tâm đến việc trả lương theo cái gì, theo sản phẩm hay theo thời gian còn cách tiến hành trả lương thì không đề cập đến. Các văn bản pháp luật thì thường đề cập đến nghĩa rộng của hình thức trả lương. Như vậy, cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp thì hình thức trả công lao động có hoặc không đều đề cập đến quy trình tính toán và không đề cao mục tiêu của việc trả lương.
Trong nền sản xuất hiện đại với sự đa dạng của các loại công việc khác nhau, kết quả lao động phong phú, đa dạng, đôi khi rất khó quy về sản phẩm hiện vật để thống kê. Vì vậy, việc xác định trả lương theo sản phẩm hay theo thời gian chỉ mang tính tương đối mà thôi. Khái niệm phương án trả lương được hiểu đó là dự kiến về cách thức tính trả lương (công thức tính lương, các mức lương) cho người lao động trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhất định của DN tại thời điểm nhất định. Nói cách khác đó chính là dự kiến các công việc phải làm để trả lương cho người lao động ứng với các điều kiện hay hoàn cảnh cụ thể nào đó.
Các điều kiện, hoàn cảnh này có thể là giả thiết xảy ra trong quá trình thực hiện. Nói đến phương án trả lương người ta thường nghiêng về phần kết của một quy trình tính lương và ít đề cập đến phần đầu cũng như quy trình tiến hành các bước tính trả lương. Một phạm trù khác là cách thức trả lương cũng được đưa ra so sánh để làm rõ hơn khái niệm về phương pháp trả công lao động. Chúng ta có thể hiểu cách thức trả lương- là khâu cuối cùng để tiền lương đến được tay người lao động.
Người sử dụng 17 có thể trả tiền lương cho người lao động bằng nhiều cách khác nhau như trả lương qua tài khoản của người lao động ở ngân hàng, cho tiền lương của từng người vào từng phong bì khác nhau không công khai tiền lương, người nào biết của người ấy, hoặc có thể trả lương bằng cách người lao động ký nhận trực tiếp tại sổ lương của đơn vị,… Việc trả tiền lương cho người lao động bằng cách nào đi thì đều không quan trọng bằng thời điểm người lao động nhận tiền có đúng hạn hay không. Như vậy giữa phương pháp trả công lao động với cách thức trả công về mặt quy trình thì phương pháp trả công là toàn bộ quy trình để tính ra số lượng tiền công của người lao động và cách thức trả công lại là công việc tiếp theo để số lượng tiền công đó đến được tay người lao động. MỤC TIÊU PHƯƠNG PHÁP TRẢ TIỀN CÔNG LAO ĐỘNG 2. Đảm bảo sự công bằng trong tiền lương của người lao động Theo Stacy Adams (1963): “Con người muốn được đối xử công bằng, mong muốn nhận được những quyền lợi tương xứng với những đóng góp hay công sức bỏ ra và được so sánh với những người khác trong cùng một tổ chức.
Tỷ số giữa quyền lợi cá nhân đóng góp của cá nhân và quyền lợi của người khác đóng góp của người khác. Nếu tỷ số này của cá nhân nhỏ hơn hay lớn hơn của người khác thì cần xác lập sự công bằng. Sự công bằng được thiết lập khi cá nhân cảm thấy tỷ số đó ngang bằng với tỷ số đó của người khác. Tuy nhiên, một số người có xu hướng cường điệu hóa những đóng góp của cá nhân nên khó xác lập được sự nhìn nhận công bằng giữa mọi người trong tập thể.
Edward Lawler “đã đưa ra một lập luận từ thuyết công bằng để lý giải sự không hài lòng và hài lòng về tiền công”. Người lao động nghĩ rằng số tiền mà họ nhận được không bằng số tiền người khác nhận là một nguyên nhân trực tiếp. Nếu họ tin rằng những người khác cũng nhận được như họ, thì lúc đó họ sẽ đạt được sự hài lòng về tiền công. Nghiên cứu do Simons tiến hành đã tìm ra những yếu tố của hệ thống lương có thể tạo nên sự hài lòng cho những thành phần lao động khác nhau.
Công bằng trong trả lương đối với người lao động được thể hiện ở hai khía cạnh sau: Khía cạnh thứ 1, số lượng tiền công mà người lao động nhận được so với mức độ đóng góp mà người lao động bỏ ra. Người lao động có thể so sánh số lượng tiền lương 18 của mình do DN trả với số lượng tiền lương trên thị trường lao động; Khía cạnh thứ 2, trong công thức tính trả lương, các tham số tính trả lương không có sự thiên vị giữa các nhóm đối tượng lao động trong DN. Trả lương cao chưa đủ mà còn phải thể hiện tính công bằng trong nội bộ DN. Khi người lao động nhận thấy rằng doanh nghiệp trả lương cho họ không công bằng, họ sẽ cảm thấy khó chịu, bị ức chế, chán nản và thậm chí rời bỏ DN.