Chương 1 tác giả cung cấp cái nhìn tổng quan về lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời, tác giả cũng xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu theo không gian và thời gian của dữ liệu, cũng như phương pháp luận được áp dụng trong luận văn. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Rủi ro thanh khoản 2.
Khái niệm Thanh khoản đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động của từng ngân hàng và sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Khi một ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản, nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thanh toán của các ngân hàng khác, tiềm ẩn nguy cơ lây lan rộng khắp hệ thống với hậu quả nghiêm trọng. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008), đã định nghĩa “RRTK là rủi ro mà một tổ chức tài chính không thể đáp ứng đầy đủ và đúng hạn các nghĩa vụ thanh toán của mình mà không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính.” Theo Vento (2009) “RRTK là nguy cơ xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng đầy đủ và đúng hạn các nghĩa vụ thanh toán của mình. Nguyên nhân có thể là do ngân hàng thiếu hụt nguồn tài chính hoặc phải huy động vốn với chi phí cao, mặc dù ngân hàng vẫn có khả năng thanh toán.” Theo khoản 14 Điều 3 Thông tư 13/2018/TT-NHNN “Rủi ro thanh khoản là rủi ro do NHTM không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc ngân hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng phải trả chi phí cao hơn mức chi phí bình quân của thị trường theo quy định nội bộ của ngân hàng thương mại.” Từ những khái niệm đã nêu trên, rủi ro thanh khoản có thể hiểu đơn giản là rủi ro khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ thanh toán, hoặc có khả năng thanh toán nhưng phải trả phí cao hơn.
Nguyên nhân Rủi ro thanh khoản (RRTK) có thể xuất phát từ nhiều yếu tố, trong đó gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân chủ quan Đầu tiên, RRTK đến từ sự mất cân bằng giữa nguồn vốn và tài sản của ngân hàng. Nếu ngân hàng chủ yếu sử dụng nguồn vốn ngắn hạn (như tiền gửi không kỳ hạn) để tài trợ cho các tài sản dài hạn (như khoản vay dài hạn), thì ngân hàng có thể gặp khó 9 khăn khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn nhưng không có đủ tiền mặt để trả. Sự mất cân bằng này có thể dẫn đến tình trạng ngân hàng phải bán tài sản dài hạn để có tiền mặt nhanh chóng, gây tổn thất về mặt tài chính của ngân hàng.
Tiếp theo, biến động lãi suất thị trường cũng tác động đáng kể đến thanh khoản ngân hàng. Theo Trương Quang Thông (2013), sự thay đổi về lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng nguồn cung thanh khoản. Cuối cùng, ngân hàng có thể gặp rủi ro thanh khoản do chiến lược và phương pháp quản trị thanh khoản chưa phù hợp. Ví dụ như danh mục tài sản của ngân hàng có tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ để đáp ứng nhu cầu chi trả.
Việc sở hữu nhiều tài sản khó bán nhanh chóng có thể khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán khi cần thiết dẫn đến nguy cơ đối mặt với RRTK. Nguyên nhân khách quan Đầu tiên, khi nền kinh tế đi xuống hoặc có biến động về lãi suất, khách hàng có xu hướng rút tiền để bảo vệ tài sản của mình. Khi lượng tiền gửi rút ra quá lớn, ngân hàng không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu rút tiền của khách hàng sẽ kéo theo tình trạng ngân hàng mất khả năng thanh khoản. Tiếp theo, nhu cầu vốn của doanh nghiệp thường thay đổi theo chu kỳ kinh doanh.
Doanh nghiệp cần nhiều vốn hơn để đầu tư vào sản xuất, hàng tồn kho và các hoạt động kinh doanh khác vào giai đoạn cao điểm. Các NHTM phải giải ngân một lượng lớn vốn trong thời gian ngắn, điều này làm cho khả năng thanh khoản ngân hàng chịu gây áp lực lớn, gia tăng RRTK. Cuối cùng, Chính phủ điều tiết nền kinh tế của Chính phủ thông qua Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bằng chính sách dự trữ bắt buộc, lãi suất,…Các chính sách này giúp kiểm soát thanh khoản của hệ thống NHTM. Tuy nhiên, thay đổi chính sách quá nhanh có thể dẫn đến khủng hoảng thanh khoản cho các ngân hàng.
Phương pháp đo lường Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trước đây đã sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đo lường RRTK ngân hàng. Trong đó, hai chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu là hệ số thanh khoản và khe hở tài trợ. Hệ số thanh khoản Để đánh giá chất lượng dự trữ thanh khoản của ngân hàng, một số nghiên cứu của Vodová (2013), Naoaj (2023), Ahamed (2021), Mazreku (2019) đã sử dụng các hệ số thanh khoản sau để đánh giá lượng dự trữ thanh khoản của ngân hàng: L1 = Tài sản thanh khoản/ Tổng tài sản Hệ số L1 thể hiện tỷ trọng tài sản thanh khoản chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản mà ngân hàng đang sở hữu. Vodová (2011) cho rằng hệ số L1 càng cao thể hiện khả năng thanh khoản ngân hàng càng tốt nhưng việc ngân hàng đang nắm giữ nhiều tài sản dưới hình thức dự trữ không sinh lợi dẫn đến hoạt động ngân hàng kém hiệu quả.
L2 = Tài sản thanh khoản/ (Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn) Nghiên cứu của Vodová (2013), Mazreku và cộng sự (2019) đã dùng hệ số thanh khoản L2 nhằm đánh giá khả năng chi trả của ngân hàng khi khách hàng có nhu cầu thực hiện rút tiền đột ngột. Khác với hệ số L1, hệ số L2 dùng tài sản thanh khoản để đo lường khả năng thanh khoản. Cũng giống với hệ số L1, hệ số L2 càng cao thể hiện khả năng thanh khoản ngân hàng càng tốt, có thể đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. L3 = Khoản cho vay/ Tổng tài sản Tỷ số L3 này cho biết tỷ trọng của các khoản cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng.
Tỷ số L3 cao đồng nghĩa với rủi ro RRTK mà ngân hàng phải đối mặt cũng cao hơn nguyên nhân là do nguồn tiền mặt được ngân hàng dồn vào các khoản cho vay khiến ngân hàng gặp khó khăn khi phải đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng khi đến hạn. Nếu các khoản vay không được thu hồi đầy đủ, ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất tài chính đáng kể. L4 = Khoản cho vay/ (Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn) 11 Hệ số L4 thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản các khoản cho vay của các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền gửi và nguồn vốn ngắn hạn. Tương tự như hệ số L3, nếu hệ số này cao đồng nghĩa với khả năng thanh khoản của ngân hàng thấp.
Khe hở tài trợ Theo Vodová (2013), FGAP (khe hở tài trợ) là sự mất cân bằng giữa tổng dư nợ cho vay bình quân và tổng tài sản tại thời điểm hiện tại và tương lai. Sự tăng giảm của FGAP là tín hiệu cảnh báo về RRTK mà ngân hàng có thể đối mặt trong tương lai. FGAP = (Dư nợ cho vay - Tiền gửi khách hàng)/ Tổng tài sản Tỷ lệ FGAP có nghĩa là ngân hàng đang phụ thuộc vào nguồn vốn vay để đáp ứng nhu cầu cho vay của khách hàng. Điều này dẫn đến sự chênh lệch lớn giữa dư nợ vay và tiền gửi của khách hàng, buộc ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn bổ sung như như vay mượn trên thị trường tài chính hoặc huy động vốn cố định.
Việc gia tăng phụ thuộc vào nguồn vốn vay khiến cho ngân hàng dễ bị ảnh hưởng bởi biến động lãi suất và thanh khoản thị trường, làm gia tăng rủi ro thanh khoản. Tổng quan nghiên cứu 2. Nghiên cứu trong nước Phạm Hồng Linh và cộng sự (2022) với đề tài “Các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. Từ mô hình ước lượng GMM, với dữ liệu từ 29 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2019 đã chỉ ra được các nhân tố vi mô và vĩ mô đều tác động đến rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam.
Với nhóm nhân tố vi mô, tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản, nợ xấu và quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều tới RRTK. Ngược lại, nhóm nhân tố vĩ mô có GDP có tác động ngược chiều tới RRTK.“ Nguyễn Đức Trung và Trần Trọng Huy (2023) với nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến khả năng thanh khoản của 30 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2021. Sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính bội, nghiên cứu đã thu được những kết quả sau: nhóm nhân tố vi mô như lợi nhuận trên VCSH, tỷ lệ cho vay, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ thanh khoản trên tiền gửi và tỷ lệ VCSH đều 12 có mối quan hệ cùng chiều với RRTK. Đối với nhóm nhân tố vĩ mô, GDP tác động ngược chiều với RRTK.
Phan Thị Mỹ Hạnh và Tống Lâm Vy (2019) đã thực hiện nghiên cứu với đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam". Nghiên cứu này đánh giá tác động của các yếu tố đến rủi ro thanh khoản của 21 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2017. Sử dụng mô hình FGLS, nghiên cứu thu được những kết quả sau: quy mô ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro thanh khoản, tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tốc độ tăng trưởng kinh tế và khủng hoảng tài chính đều có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản. Vũ Cẩm Nhung và cộng sự (2023) với đề tài “Các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản trong các ngân hàng thương mại Việt Nam”.
Bài nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK của 24 NHTM tại Việt Nam từ năm 2010 - 2022. Dựa vào kết quả mô hình GLS, có 8 nhân tố trong 12 nhân tố tác giả sử dụng có tác động đến rủi ro thanh khoản.