CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan tài liệu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của NHTM 1. Tài liệu nước ngoài. Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đều sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lợi của các NHTM, cụ thể nhƣ: Các nghiên cứu về khả năng sinh lời của ngân hàng thƣờng phân tích hệ thống ngân hàng nhiều quốc gia hoặc ở một quốc gia.
Nhóm các nghiên cứu ở phạm vi nhiều quốc gia có thể kể đến Short (1979), Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992). Nhóm nghiên cứu ở phạm vi một quốc gia cụ thể nhƣ nghiên cứu về hệ thống ngân hàng ở Hoa Kỳ (Berger và cộng sự, 1987), châu Âu (Athanasoglou và cộng sự, 2006) hoặc ở các quốc gia đang phát triển (Ali và cộng sự, 2010; Alper và Anbar, 2011). Đặc điểm chung của các nghiên cứu này xem xét ảnh hƣởng của các yếu tố nội tại của các ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trƣờng pháp lý đến lợi nhuận của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu thực hiện là khác nhau do mẫu nghiên cứu và môi trƣờng nghiên cứu khác nhau.
Tuy nhiên đặc điểm chung của các nghiên cứu đã cho phép phân loại các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Các yếu tố nội tại của ngân hàng đƣợc sử dụng nhƣ quy mô ngân hàng, quản trị rủi ro và chi phí quản lý. Quy mô ngân hàng đƣợc sử dụng để đại diện cho độ lớn hoặc thị phần của ngân hàng. Smirlock (1985) đã tìm thấy bằng chứng về mối tƣơng quan thuận đáng kể giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của ngân hàng.
Demirguc- Kunt và Huizinga (1999) cho rằng sự ảnh hƣởng của các nhân tố tài chính, pháp lý và các nhân tố khác đến lợi nhuận của ngân hàng trong mối liên kết chặt chẽ với quy mô ngân hàng. Bên cạnh đó, Short (1979) tranh luận rằng quy mô có quan hệ 6 z mật thiết với lợi nhuận của ngân hàng vì các ngân hàng lớn thƣờng huy động vốn với chi phí rẻ hơn. Với lập luận tƣơng tự, Bikker và Hu (1992), Goddard và cộng sự (2004) và một số nhà nghiên cứu khác đã cho thấy mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng, đặc biệt trong trƣờng hợp ngân hàng nhỏ và vừa, với vốn chủ sỡ hữu có mối quan hệ với lợi nhuận. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng việc tăng quy mô ngân hàng chỉ giúp tiết kiệm đƣợc chi phí rất ít (Berger và cộng sự, 1987).
Usman Dawood (2014) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lời của 23 NHTM tại Pakistan trong giai đoạn 2009 – 2012. Biến phụ thuộc đƣợc sử dụng là tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA). Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu (vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản) có ảnh hƣởng cùng chiều trong khi tỷ lệ thanh khoản (tổng tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản), tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động có ảnh hƣởng ngƣợc chiều đến khả năng sinh lời ngân hàng. Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013) nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thƣơng mại tại Malaysia trong giai đoạn 2003 - 2009.
Tác giả sử dụng tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) là biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu (vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản) và tỷ lệ thanh khoản (tổng tài sản thanh khoản trên tổng tài sản) có ảnh hƣởng cùng chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng; ngƣợc lại, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dƣ nợ, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động có ảnh hƣởng ngƣợc chiều đến khả năng sinh lời (ROA) của ngân hàng. Đối với các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trƣờng pháp lý ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng, các nghiên cứu thực nghiệm thƣờng sử dụng các chỉ tiêu nhƣ lạm phát, lãi suất và tốc độ tăng trƣởng của tổng sản phẩm quốc nội. Revell (1979) là ngƣời giới thiệu mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của ngân hàng và lạm phát.
Ông ta cho rằng ảnh hƣởng của lạm phát đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tùy thuộc vào tỷ lệ tăng lƣơng của nhân viên ngân hàng và các chi phí hoạt động khác có nhanh hơn tỷ lệ lạm phát hay không. Câu hỏi là nền kinh tế của một 7 z quốc gia đã phát triển ở mức nào và tỷ lệ lạm phát trong tƣơng lai có thể đƣợc dự đoán đúng đắn đến đâu ngân hàng có thể quản lý chi phí hoạt động của mình. Dựa trên quan điểm này, Perry (1992) cho rằng mức độ lạm phát ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tùy thuộc vào khả năng dự báo đúng đắn tỷ lệ lạm phát trong tƣơng lai. Tỷ lệ lạm phát trong tƣơng lai có thể đƣợc ƣớc tính bởi ngân hàng, điều này có nghĩa là ngân hàng có thể điều chỉnh tỷ lệ lãi suất để đảm bảo mức độ tăng doanh thu là nhanh hơn mức độ tăng của chi phí, do đó ngân hàng có thể kiếm đƣợc nhiều lợi nhuận hơn.
Phần lớn các nghiên cứu cho thấy mối tƣơng quan thuận giữa hiệu quả sinh lời với tỷ lệ lạm phát hoặc tỷ lệ lãi suất dài hạn. Ngoài ra, tốc độ tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm là chỉ số rất thƣờng sử dụng để đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô. Các nghiên cứu trƣớc đây thƣờng cho thấy mối tƣơng quan thuận giữa khả năng sinh lời ngân hàng và tốc độ tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm. Bài nghiên cứu của Ongore và Kusa (2012) về các yếu tố quyết định khả năng sinh lời đƣợc đo lƣờng bằng 3 chỉ tiêu: ROA, ROE, NIM trong hoạt động kinh doanh ngân hàng của nƣớc Kenya thông qua mô hình hồi quy bình phƣơng bé nhất OLS.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố: tỷ lệ an toàn vốn, chất lƣợng tài sản, hiệu quả quản lý, tổng sản phẩm quốc nội, tỷ lệ lạm phát trung bình có ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả sinh lời trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM ở Kenya, ngoại trừ biến thanh khoản. Cụ thể, tỷ lệ an toàn vốn có mối quan hệ đồng biến với ROA và NIM. Tuy nhiên, tỷ lệ an toàn vốn lại có một mối quan hệ nghịch biến với ROE. Chất lƣợng tài sản đƣợc thể hiện thông qua tỷ lệ nợ xấu so với tổng các khoản vay có tác động nghịch biến với cả 3 biến phụ thuộc.
Hệ số tƣơng quan ngƣợc chiều giữa chất lƣợng tài sản và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là rất cao. Các biến giải thích khác: hiệu quả quản lý quan hệ cùng chiều với cả ba biến phụ thuộc và tác động mạnh mẽ nhất đến biến ROE. Tính thanh khoản quan hệ cùng chiều với ROA, ROE và tỷ lệ NIM nhƣng mối quan hệ là rất yếu. GDP tác động tiêu cực tới ROA và tích cực đến ROE.
Trong cả hai trƣờng hợp, các mối tƣơng quan là không đáng kể. Tuy nhiên, GDP tác động tiêu cực khá lớn đối với NIM. Biến kinh tế vĩ mô lạm 8 z phát tác động tiêu cực khá mạnh với hiệu quả sinh lời trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Pasiouras và Kosmidou (2007) nghiên cứu các ngân hàng Châu Âu trong giai đoạn 1995-2001 với mẫu gồm 584 ngân hàng và 4.
Tác giả sử dụng mô hình tuyến tính cho toàn bộ mẫu và chạy mô hình hồi quy cho các ngân hàng nội địa và ngân hàng nƣớc ngoài. Trong đó, tác giả sử dụng ROA là biến phụ thuộc, biến độc lập đƣợc phân thành hai loại biến: biến đặc trƣng cho ngành (biến về vốn, biến về thanh khoản nhƣ tỷ số dƣ nợ cho vay trên dƣ nợ tiền gửi, tỷ số chi phí trên thu nhập, quy mô ngân hàng,…) và biến vĩ mô (lạm phát, tăng trƣởng GDP). Các tác giả tìm ra đƣợc mối tƣơng quan giữa tỷ số vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay khách hàng và số dƣ huy động ngắn hạn, tỷ lệ chi phí trên thu nhập, quy mô ngân hàng có mối quan hệ với khả năng sinh lời của các ngân hàng thƣơng mại. Mối quan hệ giữa các biến vĩ mô và khả năng sinh lời cũng có ý nghĩa thống kê cho toàn bộ mẫu xem xét.
Trong đó, tác giả đã tìm ra rằng tồn tại mối tƣơng quan dƣơng tƣơng đối thấp giữa biến lạm phát và khả năng sinh lời còn hệ số của biến tốc độ tăng trƣởng GDP thể hiện mối tƣơng quan dƣơng với biến khả năng sinh lời đối với các ngân hàng nội địa. Muhammad Bilal, Asif Saeed, Ammar Ali Gull và Toquer Akram (2013) đã nghiên cứu ảnh hƣởng của các nhân tố bên trong ngân hàng và các nhân tố vĩ mô đến khả năng sinh lợi của 25 NHTM tại Pakistan giai đoạn 2007 – 2011. Các tác giả sử dụng biến phụ thuộc để nghiên cứu là tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE). Các biến độc lập đại diện cho đặc điểm nội tại của ngân hàng đƣợc sử dụng bao gồm quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, nợ xấu, tiền gửi khách hàng, tỷ lệ thu nhập lãi thuần.
Các biến độc lập đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô là lạm phát, tốc độ tăng trƣởng sản xuất công nghiệp và tốc độ tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô ngân hàng có mối tƣơng quan thuận với khả năng sinh lợi ngân hàng. Nợ xấu có mối tƣơng quan nghịch không đáng kể đến ROA, nhƣng có mối tƣơng quan nghịch đáng kể đến ROE.Ngoài ra, yếu tố kinh tế vĩ mô nhƣ tốc độ tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế có mối tƣơng quan thuận đến khả năng sinh lợi ngân hàng. 9 z Lạm phát có mối tƣơng quan thuận không đáng kể với ROE nhƣng có mối tƣơng quan nghịch mạnh mẽ với ROA.
Tài liệu trong nước. Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Số liệu sử dụng cho nghiên cứu đƣợc thu thập từ các báo cáo tài chính của 22 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007- 2013.