Đặt vấn đề Công nghiệp hoá, hiện đại hóa và đô thị hoá là xu hướng phát triển có tính quy luật chung của nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, nước ta đang phát triển và khai thác quá trình này như một cuộc cách mạng sâu sắc và toàn vẹn để phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản có thể trở thành một nước có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước là quyết tâm đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Đảng và Nhà nước đã ban hành chính sách chuyển một số diện tích đất nông nghiệp thành đất xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở nhiều tỉnh thành phố trên cả nước. Một mặt phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói chung đồng thời nhằm tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động ở vùng quy hoạch đất bị thu hồi nói riêng, sao cho vừa tạo được công ăn việc làm cho người dân vừa đáp ứng được mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Nhưng trong thực tế vấn đề tạo việc làm cho người dân bị mất đất lại rất khó khăn. Trong điều kiện hiện tại của nước ta các vấn đề lao động và việc làm luôn là một tiêu điểm trong các diễn đàn, các cuộc hội thảo, thảo luận. Trong khi đó hàng năm dân số nước ta không ngừng tăng lên mỗi năm có thêm hơn 1 triệu người bước vào tuổi lao động lực lượng này vừa là động lực cho sự phát triển nhưng đồng thời cũng tạo thêm gánh nặng cho xã hội. Do đó làm thế nào để giải quyết việc làm cho người dân cộng với số gia tăng hàng năm đã và đang là vấn đề nan giải.
Hơn nữa là người nông dân luôn luôn gắn chặt cuộc sống của mình với nghề nông, với đất đai, thì bây giờ đã bị thu hồi đất để phục vụ cho phát triển công nghiệp do đó tạo việc làm để ổn định cuộc sống cho họ là một điều hết sức cần thiết và cấp bách. Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, thủ đô Hà Nội và đặc biệt là khu vực ven đô quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Song, đằng sau những biến đổi tích cực đó còn những vấn đề xã hội khác đang cần quan tâm giải quyết. 8 z Điển hình hơn cả là vấn đề việc làm của lao động địa phương.
Cụm công nghiệp Thanh Oai – Hà Nội đã phát triển được gần 10 năm nhưng quá trình tuyển dụng, đào tạo và sử dụng LĐĐP vòa làm trong các nhà máy xí nghiệp còn nhiều vấn đề đặt ra. Trong việc giải quyết việc làm cho lao động địa phương thì các doanh nghiệp địa phương đóng một vai trò rất quan trọng. Song nhận thức và thái độ của họ như thế nào về trách nhiệm xã hội của mình, về người LĐĐP Và họ đã và đang tuyển dụng, sử dụng lao động địa phương như thế nào? Những vấn đề đặt ra đó cần có câu trả lời xác thực từ thực tiễn. Từ đó việc tìm hiểu “Nhận thức, thái độ và hành vi của nhà quản lý doanh nghiệp về sử dụng lao động trong sản xuất” là vấn đề cần thiết đặt ra.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Vì tầm quan trọng của vấn đề lao động và việc làm, đặc biệt là trong thời kì CNH – HĐH hiện nay, ở nước ta từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây có nhiều tác giả, nhà khoa học đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về vấn đề này. Trong đó phải kể tới một số các công trình như: Có nhiều bài viết về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: nhận thức và thực tế ở Việt Nam của tác giả Trần Hồng Minh (2009). Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tác giả Phạm Văn Đức (2012); Hội thảo Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Viện Nghiên cứu Hòa bình và phát triển Cộng hòa Liên bang Đức. Các bài biết đã nêu lên những vấn đề về: Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; những rào cản về nhận thức bao gồm: hiểu biết về khái niệm trách nhiệm xã hội còn hạn chế; năng suất bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng thời nhiều bộ quy tắc ứng xử; thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội (đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ); sự nhầm lẫn do khác biệt giữa qui định của bộ quy tắc ứng xử và Bộ Luật Lao động; và những quy định trong nước ảnh hưởng tới việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử.
9 z Tác động của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội không chỉ giúp bản thân doanh nghiệp phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội. Trên cơ sở làm rõ những lợi ích to lớn từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và đánh giá khái quát tình hình thực thi trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Thảo luận về điều tra xã hội học trong phạm vi dự án trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Trách nhiệm xã hội nên hiểu một cách toàn diện hơn, không chỉ ở khía cạnh đạo đức của doanh nghiệp, ở hoạt động từ thiện, mà cần hiểu ở cả khía cạnh kinh tế lẫn pháp lý, tức coi việc thực thi trách nhiệm xã hội là một yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực về kinh doanh, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng. Bên cạnh đó cũng có nhiều công trình nghiên cứu về giải quyết việc làm cho người dân cũng như là sự chuyển dịch cơ cấu lao động nghề nghiệp của người dân nông thôn trong quá trình đô thị hóa. Trường Đại học Kinh tế quốc dân trong đề tài độc lập cấp nhà nước KX.01 - 2005 với đề tài “Việc làm và thu nhập cho lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH-HĐH và đô thị hoá”.
Nguyễn Hữu Dũng và các tác giả khác (1997) nghiên cứu về "Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”; Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Nguồn lao động - Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2000) thực hiện đề tài “Những biện pháp chủ yếu giải quyết lao động thiếu việc làm ở vùng thuần nông”; Đề tài cấp nhà nước (12/2005) “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia. Các nghiên cứu đã chỉ ra thu hồi đất cho quá trình CNH-HĐH và đô thị hoá tất yếu sẽ dẫn đến thu hồi đất nông nghiệp và do đó một bộ phân dân sẽ mất việc làm trong nông nghiệp. Thu hồi đất dẫn đến thực trạng của thu nhập, đời sống, việc 10 z làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp thay đổi một cách mạnh mẽ theo kiểu bong bóng, cùng lúc trong tay người nông dân có rất nhiều tiền nhưng họ không biết sử dụng để làm vốn sản xuất. Sau một thời gian thì tiêu hết tiền đền bù và cuộc sống trở nên khó khăn.
Bên cạnh đó cũng xuất hiện các khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội có nhiều thay đổi theo hình dáng của các đô thị hiện đại. Quá trình thu hồi đất tạo nên những bất cập về vấn đề đảm bảo thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi. Việc thu hồi đất là điều kiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ nhưng kế hoạch thu hồi đất không gắn với kế hoạch đào tạo nghề nên người dân mất đất không có việc làm và thu nhập, đời sống người dân tiềm ẩn sự bất ổn bên trong. Bên cạnh đó nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia hiện nay có nhiều mâu thuẫn.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của vấn đề này. Vấn đề tạo việc làm cho người lao động, đề ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ tình trạng thất nghiệp đã được Nguyễn Sinh Cúc (1990) đề cập tới trong bài viết: “Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn” [ 13, tr 11,15 ] trên Tạp chí thông tin tháng 11/1990; Bộ Lao động thương binh và xã hội (1994) “Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển đổi sang nền kinh tế nhiều thành phần”[14, tr 24,31 ]. Song đó cũng chỉ là những thực trạng và giải pháp chung, mang tầm vĩ mô, như đưa ra một số nhóm giải pháp về mở rộng các loại hình đào tạo nghề, khuyến khích phát triển nghề phụ,nghề truyền thống, bước đầu quan tâm tới phát triển du lịch, dịch vụ… Dù có đề cập tới vấn đề việc làm cho lao động nông thôn nhưng vẫn chung chung, chưa cụ thể với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Hơn nữa những nghiên cứu kể trên đã được tiến hành cách đây đã trên dưới 20 năm, vì vậy ít nhiều cũng đã có phần không còn phù hợp với thực tiễn.
Bên cạnh đó vai trò của Nhà nước trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm cũng được một số tác giả quan tâm như Nguyễn Quý Tình (1996) “Vai trò Nhà nước trong tạo tiền đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [10, tr 25,29]. Những đề tài trên đã nhấn mạnh vai trò rõ rệt của Đảng và Nhà nước trong việc tạo công ăn việc làm cho người lao động trong thời kì đổi mới.