Đặt vấn đề Nguyên lý gây ứng suất trước (ƯST) đã được ứng dụng thực tiễn trong đời sống từ hàng trăm năm trước đây. Các thùng chứa chất lỏng như nước, rượu…được chế tạo từ các thanh gỗ ghép lại nhờ những đai bằng dây thừng có thể chịu được áp lực chất lỏng lên thành. Trong những năm 1928-1929 kỹ sư người Pháp E.Freyssinet lần đầu tiên chứng minh có thể sử dụng loại thép cường độ cao ( cáp) để tạo ứng suất trước trong kết cấu bê tông. Thành công đó đã nhanh chóng đưa kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước vào các công trình nghiên cứu về lý thuyết tính toán và tiến hành xây dựng ở nhiều nước.
Tòa nhà Santa Maria Condominimum ở Mỹ cao 160m (52 tầng) hoàn thành 1997 (hình 1.1) là một trong những tòa nhà của Mỹ ứng dụng sớm giải pháp kết cấu bê tông ứng suất trước. Tòa nhà Santa Maria Condominimum ở Mỹ 2 Kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước được nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam khá sớm, từ đầu những năm 60 thế kỷ XX. Các công trình đầu tiên là cầu Phú Lỗ, khách sạn Thắng Lợi, cầu Bãi Cháy… Cho đến nay, việc sử dụng kết cấu BTƯST trong xây dựng đang được đẩy mạnh ở nước ta. Với những ưu điểm nổi bật, kết cấu BTƯST là giải pháp tối ưu cho các công trình cao tầng vượt nhịp lớn, các công trình cầu, bể chứa, các công trình chịu tải trọng lớn, tải trọng động….Dự án khách sạn Hilton Đà Nẵng (hình 1.2) là một điển hình mới đây nhất, với yêu cầu công năng sử dụng phức tạp, giải pháp dầm chuyển vượt nhịp 24m, cao 80cm với hai lớp cáp 22 sợi, đỡ cho 4 tầng khối cinema (hình 1.3), hay cầu Mỹ Thuận- cây cầu dây văng đầu tiên tại Việt Nam (hình 1.4), nhịp cầu 40m sử dụng kết cấu bê tông dự ứng lực lắp ghép.
Dự án khách sạn Hilton-Đà Nẵng 3 Hình 1. Thi công cáp ứng lực tại công trình Hilton-Đà nẵng Hình 1. Cầu Mỹ Thuận nối hai tỉnh Tiền Giang- Vĩnh Long. Tuy nhiên, nhược điểm khi sử dụng kết cấu này thường gặp phải như nứt bê tông do ứng suất kéo (hình 1.5), tổn hao ứng suất trước trong sợi cáp, giảm độ cứng của kết cấu, hư hỏng đầu neo và ảnh hưởng môi trường xung quanh, yêu 4 cầu kỹ thuật thi công cao.
Sự mất mát ứng suất trước là một nguyên nhân cần giám sát cẩn trọng để đảm bảo khả năng sử dụng và mức độ an toàn của kết cấu. Trong kết cấu BTƯST, sau khi bê tông cốt thép được nén bằng các lực căng bó thép, có nhiều yếu tố phát sinh làm giảm hiệu quả của lực căng cáp. Các mất mát tức thời do: trượt thép đầu neo, do nén đàn hồi (hay co ngót) của bê tông, ma sát giữa bó cáp và thành ống. Các mất mát ứng suất theo thời gian: do co ngót của bê tông, do từ biến của bê tông, do chùng bó cáp.Vết nứt dầm cầu do tổn hao ứng suất trước.
Rất nhiều công trình gần đây sử dụng kết cấu này trong thời gian dài chịu nhiều tác động của môi trường, bị lão hóa, ăn mòn, chịu tải trọng vượt thiết kế cho phép… gây ra những sự cố đáng tiếc. Sự cố gãy nhịp cầu vượt, thuộc dự án đường cao tốc Trung Lương năm 2009 gây thiệt hại về người và tài sản (hình 1. Nguyên nhân được xác định do hạ dầm dây cáp ở hai đầu không đều nên gây đứt cáp. Từ những sự cố như thế, vấn đề về chất lượng kỹ thuật thi công cũng như việc chẩn đoán hư hỏng trong cấu kiện BTCTƯST cần được quan tâm.Sự cố gãy nhịp cầu vượt, đường cao tốc Trung Lương Trên thế giới và tại Việt Nam, nhiều phương pháp và kỹ thuật khác nhau đã được sử dụng để đánh giá tổn hao lực căng cáp của kết cấu BTCTƯST như: kiểm tra áp lực trong kích thủy lực, sử dụng đầu đo lực, theo dõi biến dạng… Các phương pháp này mặc dù việc mô tả đơn giản nhưng ứng dụng thực tế thường khó đạt hiệu quả về mặt giá thành, tính chính xác cũng như khả năng áp dụng.
Cho nên việc cần thiết là phải đưa ra phương pháp thay thế để theo dõi bảo trì và phát hiện hư hỏng. Một phương pháp đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả là phương pháp theo dõi lực căng cáp thông qua tần số dao động tự nhiên. Phương pháp đã được ứng dụng rất thành công và thể hiện tính hiệu quả cao (Kim và cộng sự 2004, Kim và cộng sự 2010, Ho và cộng sự 2012).2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhận dạng tổn hao lực căng trong kết cấu dầm BTCTƯST. Bước đầu tiên, thiết lập mối quan hệ giữa tần số dao động tự nhiên và lực căng cáp trong dầm.
Kế tiếp, mô phỏng sự làm việc của dầm bằng phần mềm ABAQUS. Hiệu chỉnh kết quả mô hình bằng thuật toán tối ưu hóa (áp dụng giải 6 thuật tiến hóa khác biệt - Differential Evolution-DE). Cuối cùng, từ kết quả thí nghiệm và hiệu chỉnh mô hình, dự đoán trạng thái tổn hao ứng suất trước trong dầm.2 Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục tiêu trên, cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau: - Chọn kết cấu dầm BTCTƯST thí nghiệm đã được công bố, để lấy kết quả tần số đo được ứng với các trường hợp lực căng cáp khác nhau. Kết quả thí nghiệm phải cụ thể, đảm bảo chính xác vì đó là cở sở cho các so sánh sau này.
- Mô phỏng ứng xử của dầm bằng phần mềm ABAQUS. So sánh kết quả thu được từ phần mềm và thí nghiệm, đưa ra nhận xét. - Xác định các thông số hiệu chỉnh trong mô hình phần tử hữu hạn. Hiệu chỉnh các thông số mô hình theo từng trạng thái ứng suất trước cho đến khi bài toán hội tụ.
- Xác định tần số dao động của dầm theo mô hình PTHH đã hiệu chỉnh. Dựa vào phân tích hồi quy tuyến tính xác định được tần số mô hình của dầm ở trạng thái không ứng suất trước. - Dựa vào tần số tự nhiên đo được và tần số mô hình ở trạng thái không ứng suất trước kết hợp với biểu thức quan hệ lực ứng suất trước và tần số tự nhiên trong dầm, xác định được trạng thái tổn hao ứng suất trước của dầm. - Rút ra kết luận về những công việc đã thực hiện.
Nêu lên những hướng phát triển đề tài.3 Tính cần thiết và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu Một mô hình phần tử hữu hạn (PTHH) chính xác là điều kiện tiên quyết cho các ứng dụng kỹ thuật dân dụng như phát hiện các phá hoại, theo dõi, kiễm soát sự làm việc của kết cấu. Tuy nhiên, đối với các kết cấu phức tạp, không phải dễ dàng để tạo ra các mô hình PTHH chính xác để có thể theo dõi sự làm việc, bởi các đặc tính vật liệu, hình học, điều kiện biên, và điều kiện nhiệt độ xung quanh là không hoàn toàn xác định. Cho nên vấn đề quan trọng là làm thế nào để hiệu chỉnh mô 7 hình PTHH sử dụng các kết quả thực nghiệm để việc phân tích các thông số kết cấu phù hợp với thực nghiệm. Từ đó có thể nhận dạng tổn hao lực căng trong dầm.
Trong thực tế, nghiên cứu này có thể áp dụng để thiết lập một cảnh báo hư hỏng cho dầm BTCTƯST từ các dữ liệu dao dộng thu được qua các gia tốc kế gắn trên dầm. Nghiên cứu này là một trong những phương pháp theo dõi và bảo trì kết cấu (SHM). Nó cảnh báo tình trạng mất ứng suất gây hư hỏng kết cấu khi tăng tải sử dụng đột ngột, sự co ngót của bê tông.4 Cấu trúc luận văn Trong luận văn này thực hiện phương pháp nhận dạng tổn hao lực căng từ kết quả phân tích dao động của kết cấu dầm bê tông ứng suất trước. Bài toán tối ưu hiệu chỉnh mô hình PTHH dùng giải thuật tiến hóa khác biệt DE và phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính để tìm tần số dầm trạng thái không ứng suất trước.
Cấu trúc luận văn gồm 5 chương như sau: Chƣơng 1: Giới thiệu, trình bày mục tiêu và nội dung nghiên cứu cũng như tính cần thiết và ứng dụng thực tế của đề tài. Chƣơng 2: Tổng quan về tình hình nghiên cứu nước ngoài và tại Việt Nam đã thực hiện về đề tài đang nghiên cứu. Từ đó rút ra hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Chƣơng 3: Trình bày cơ sở lý thuyết mối tương quan giữa lực ứng suất và tần số dao động, lý thuyết tối ưu hóa sử dụng giải thuật tiến hóa khác biệt DE đề hiệu chỉnh bài toán.
Chƣơng 4: Các bài toán áp dụng. Chương này sẽ phân tích dao động của một dầm BTCTƯST bằng phần mềm PTHH, sau đó hiệu chỉnh mô hình với thuật toán DE. Dựa trên cơ sở lý thuyết chương 3, dự đoán được trạng thái tổn hao ứng suất trong dầm. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị sau khi thực hiện đề tài.
Phần cuối là các tài liệu tham khảo 8 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN Nguyên nhân dẫn đến mất mát ứng suất trong kết cấu dầm BTCTƯST có thể do co ngót, từ biến của bê tông, giảm ứng suất trong sợi cáp, giảm ma sát và vị trí đầu neo. Các phương pháp theo dõi và nhận dạng hư hỏng trong kết cấu dầm bê tông cốt thép ứng suất trước đã được nghiên cứu và áp dụng thực tế rất thành công. Phương pháp không phá hủy nhằm phát hiện mất mát ứng suất trước đó là theo dõi tần số dao động tự nhiên, hay hệ thống lai sử dụng phương pháp tuần tự rung động trở kháng để phát hiện hư hỏng trong sợi cáp…Tuy nhiên phương pháp theo dõi trạng thái mất ứng suất trước từ kết quả phân tích tần số dao động là một trong những hướng nghiên cứu đã và đang được quan tâm nhiều nhất. Trong chương này sẽ trình bày các nghiên cứu nước ngoài cũng như tại Việt Nam về vấn đề mất ứng suất trong dầm BTCTƯST.1 Tình hình nghiên cứu nƣớc ngoài Từ đầu những năm 1970, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về vấn đề sử dụng đặc trưng dao động như là một chỉ số để xác định hư hỏng xảy ra trong kết cấu.
Trạng thái mất ứng suất trước xảy ra dọc theo toàn bộ dầm được xác nhận là do giảm khả năng đàn hồi và uốn của bê tông, từ biến và co ngót trong bê tông, giảm ứng suất trong cáp, giảm ma sát và vị trí các đầu neo (Collins và cộng sự 1991).