chương 1 giới thiệu về nghiên cứu trên đây, chương 2 tập trung khảo sát lý thuyết, trong đó nêu tổng quan DNNVV và nguyên nhân DNNVV khó tiếp cận tín dụng. Trong chương 3, luận văn tiến hành phân tích các dữ liệu thu thập được. Cuối cùng, chương 4 kết luận những nguyên nhân chính gây khó khăn cho DNNVV trong tiếp cận tín dụng và đưa ra các đề xuất chính sách dựa trên phân tích ở chương 3. 123doc 4 Chương 2: KHẢO SÁT LÝ THUYẾT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ NGUYÊN NHÂN KHÓ KHĂN TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG 2.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên thế giới, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, chiến lược, mục tiêu và định hướng của từng quốc gia riêng biệt, khái niệm DNNVV thường không đồng nhất.
Mặc dù có sự khác biệt nhất định, nhìn chung, khái niệm DNNVV có chung một số nội dung như sau: DNNVV là những cơ sở sản xuất - kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, có quy mô DN giới hạn theo các tiêu thức như: Số lao động, tổng nguồn vốn, tổng tài sản hay doanh thu hàng năm, và các tiêu thức luôn thay đổi theo từng thời kỳ nhất định của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP (NĐ 56) về trợ giúp phát triển DNNVV (thay thế Nghị định 90/2001/NĐ-CP), DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa, theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) (Bảng 2. DNNVV bao gồm nhiều loại hình tổ chức DN: DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể. DNNVV có thể có nhiều loại hình sở hữu khác nhau như: Sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân hoặc có yếu tố sở hữu nước ngoài.
Tuy nhiên, khái niệm DNNVV sử dụng trong luận văn chỉ xét đến các DNNVV theo phân loại ở NĐ 56, thuộc sở hữu tư nhân trong nước được đăng ký theo Luật DN. Vì vậy, đối tượng DNNVV trong luận văn chỉ bao gồm các DNNVV thuộc các loại hình: DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. DN thuộc sở hữu Nhà nước và có yếu tố sở hữu nước ngoài không được xét đến, vì họ có những đặc điểm khác biệt so với DNNVV tư nhân trong nước trong tiếp cận tín dụng.1: Phân loại DNNVV DN siêu Quy mô DN nhỏ DN vừa nhỏ Số lao Tổng Tổng nguồn Khu vực Số lao động Số lao động động nguồn vốn vốn Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 I. Nông, lâm nghiệp 10 người 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 người đến 300 và thủy sản trở xuống trở xuống 200 người tỷ đồng người Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 II.
Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 người đến 300 xây dựng trở xuống trở xuống 200 người tỷ đồng người Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 III. Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng người đến 50 đồng đến 50 người đến 100 dịch vụ trở xuống trở xuống người tỷ đồng người Nguồn: Chính phủ (2009), Nghị định 56/2009/NĐ-CP 2.2 Các nguyên nhân gây khó khăn cho DNNVV trong tiếp cận tín dụng Tiếp cận tín dụng là nhân tố quan trọng đảm bảo cho DN đáp ứng được nhu cầu vốn phục vụ kinh doanh. Tuy nhiên, ở các quốc gia đang phát triển, việc tiếp cận tín dụng của các DN, đặc biệt là DNNVV gặp nhiều khó khăn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra 3 nhóm nhân tố chính cản trở việc tiếp cận tín dụng của các DNNVV ở các quốc gia đang phát triển, đó là: Môi trường hoạt động của lĩnh vực tài chính: Bất ổn kinh tế vĩ mô; Hệ thống luật pháp liên quan đến tài sản đảm bảo (TSĐB) tín dụng yếu kém; Thông tin bất cân xứng; Hiệu quả của hệ thống NH thấp; Các nhân tố đến từ phía cung tín dụng (các NH): NH thiếu hụt vốn trung - dài hạn để cho vay; Yếu kém của NH trong thẩm định các khoản vay; Thủ tục cho vay phức tạp; Các nhân tố đến từ phía cầu tín dụng (yếu kém của DNNVV): Hệ thống kế toán tài chính thiếu tin cậy; Kỹ năng tài chính và kỹ năng quản lý của Chủ DN kém.1 Môi trường hoạt động của lĩnh vực tài chính i.
Bất ổn kinh tế vĩ mô: Bất ổn kinh tế vĩ mô là một cản trở nghiêm trọng việc tiếp cận tín dụng của DN5. Nguyên nhân do bất ổn kinh tế vĩ mô thường đi cùng với tỷ lệ lạm phát cao và tỷ giá hối đoái biến động lớn. Điều này kéo theo lãi suất danh nghĩa tăng lên quá cao và thời hạn cho vay ngắn hơn, làm cho việc tiếp cận tín dụng của DNNVV trở nên cực kỳ tốn kém. Hệ thống luật pháp liên quan đến TSĐB tín dụng yếu kém: Ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, hầu hết các DN muốn xin vay vốn được yêu cầu thế chấp tài sản.
Tuy nhiên, các DN thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu này vì họ thiếu tài sản đủ tính pháp lý để thế chấp6. Bên cạnh đó, khi xét về khía cạnh người cho vay đối với TSĐB, họ có thể bị nản chí nếu việc cưỡng chế thực hiện hợp đồng là một quá trình phức tạp và tốn kém thời gian. Một hệ thống luật pháp tốt sẽ cho phép các NH dễ dàng thực hiện quyền của mình đối với các TSĐB, cho phép họ cam kết vào các dự án đầu tư cần thiết và mở rộng tín dụng mà không phải bận tâm về cưỡng chế thực hiện hợp đồng7. Thông tin bất cân xứng: Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong giao dịch có một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại.
Ở thị trường tài chính, thông tin bất cân xứng là một nhân tố quan trọng cản trở việc tiếp cận tín dụng. Các DN thường sở hữu các thông tin riêng về việc kinh doanh của họ mà các NH khó có thể tiếp cận được. Điều này dẫn đến 2 vấn đề: Lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức. Lựa chọn ngược xảy ra trước khi cho vay, NH không có khả năng phân biệt được rủi ro của các dự án nên họ có thể tăng lãi suất, dẫn đến hiện tượng chỉ có các DN rủi ro cao vay được.
Rủi ro đạo đức là trường hợp xảy ra sau khi NH cấp tín dụng cho DN, DN có thể sử dụng vốn không đúng mục đích trong hợp đồng vay8. Tóm lại, do thông tin bất cân 5 Boyd.; Levine và Smith (2001) 6 Fleisig; Safavian và De La Pena (2006) 7 Xu (2010). 8 Mishkin (1991) 123doc 7 xứng, rủi ro của khoản vay khá cao nên NH sẽ tăng chi phí của việc vay mượn hoặc hạn chế cho vay. Hiệu quả của hệ thống NH thấp: Hiệu quả của hệ thống ngân hàng được đo bằng cấu trúc thị trường cạnh tranh và hạn chế sự can thiệp của Nhà nước.
Sự tập trung cao (hay sự kém cạnh tranh) của hệ thống NH (bank concentration) làm hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của DN ở các quốc gia phát triển thấp. Thêm vào đó, việc Chính phủ can thiệp sâu vào ngành bằng việc có nhiều quy định hạn chế trong hoạt động NH sẽ làm trầm trọng thêm tác động trên9.2 Các nhân tố đến từ phía cung tín dụng (các NH) i. Thiếu hụt vốn trung - dài hạn để cho vay: Để thực hiện các khoản đầu tư hiệu quả, các DN (đặc biệt trong ngành công nghiệp) rất cần các khoản vốn trung - dài hạn. Khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng trung - dài hạn giúp các DN phát triển nhanh hơn họ có thể có nếu chỉ dựa vào nguồn vốn tự có và tín dụng ngắn hạn10.
Tuy nhiên, NH ở các quốc gia đang phát triển thường dựa vào nguồn vốn ngắn hạn (tiền gửi ngắn hạn) và để tránh việc bất cân xứng kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có, NH thường hạn chế cấp tín dụng trung - dài hạn cho các DN11. Yếu kém trong việc thẩm định các khoản vay: Việc các NH phân biệt đối xử với DNNVV có thể xuất phát từ yếu kém của họ trong việc thẩm định các khoản vay. Công ty Tài chính quốc tế (IFC) khẳng định điều này khi cho rằng việc hạn chế tín dụng cho DNNVV, vì có ít nhân viên NH có khả năng và kinh nghiệm trong việc thẩm định và quản trị rủi ro các khoản vay12. Các NH thường tập trung vào các DN lớn nên nhân viên tín dụng thường chỉ được đào tạo để thẩm định và quản lý các khách hàng lớn với thông tin và báo cáo tài chính (BCTC) đầy đủ.
Những kỹ thuật thẩm định cho 9 Beck; Demirguc-Kunt và Maksimovic (2004) 10 Caprio Jr và Demirguc‐Kunt (1998) 11 Bouri; Breij; Diop và đ.g (2011) 12 IFC (2003) 123doc 8 DN lớn nếu được áp dụng cho DNNVV sẽ dẫn đến việc nhiều DNNVV không thể đáp ứng được những điều kiện của NH13. Thủ tục cho vay phức tạp: Thủ tục cho vay tại các NH có thể khá phức tạp, gây tốn kém thời gian và chi phí cho DNNVV. DNNVV có thể phải cung cấp quá nhiều giấy tờ pháp lý, làm quá nhiều thủ tục rườm rà và phải chờ đợi trong thời gian dài để khoản vay được duyệt. Điều này làm DN có thể phải tốn chi phí lớn khi tiếp cận tín dụng và gây tâm lý e ngại khi họ có nhu cầu vay vốn14.3 Các nhân tố đến từ phía cầu tín dụng (DNNVV) i.
Hệ thống kế toán tài chính thiếu tin cậy: Hệ thống kế toán tài chính tốt và đáng tin cậy là điều kiện cần thiết để các nhà đầu tư tài chính đầu tư vào DN. DN có BCTC được kiểm toán sẽ dễ dàng tiếp cận tín dụng hơn. Tuy nhiên, các DNNVV thường không có các hệ thống kế toán cũng như các thông tin tài chính đáng tin cậy (đã được kiểm toán)15. Thêm vào đó, các DN này thường giữ hai đến ba sổ kế toán, gây khó khăn cho NH trong việc thẩm định rủi ro.
Ví dụ như ở Trung Quốc, các DN thường có vài sổ kế toán phụ thuộc vào đối tượng được cho xem là ai16. Kỹ năng tài chính và kỹ năng quản lý của Chủ DN kém: Đối với NH, trình độ của Chủ DN là một nhân tố quan trọng khi thẩm định khoản vay.