ĐẠI HỌC QUOC GIA HÀ NOI BAO CÁO TONG KET KET QUA THUC HIEN DE TAI KH&CN CAP DAI HỌC QUOC GIA —— Tên đề tài: Nghiên cứu xử lý các vật liệu giàu lignocellulose có nguồn gốc từ phế liệu nông, lâm nghiệp để sản xuất phân bón ứng dụng cho cải tạo Vagàe.r đất Mã số đề tài: QG.13 Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Ngân Hà Hà Nội, 12/2021 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI BAO CAO TONG KET KET QUA THUC HIEN DE TAI KH&CN CAP DAI HQC QUOC GIA Tén đề tài: Nghiên cứu xử lý các vật liệu giàu lignocellulose có nguồn gốc từ phế liệu nông, lâm nghiệp để sản xuất phân bón ứng dụng cho cải tạo đất Mã số đề tài: QG.13 Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Ngân Hà Hà Nội, 12/2021 PHAN I. THONG TIN CHUNG 1.
Tên đề tài: Nghiên cứu xứ ly các vật liệu giàu lignocellulose có nguồn gốc từ phế liệu nông, lâm nghiệp để sản xuất phân bón ứng dụng cho cải tạo đất 1. Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài Chức danh, học vi, họ và tên Don vị công tac Vai trò thực hiện đề tài TS. Nguyễn Ngân Hà TrườngĐHKHTN- |Chủ nhiệm đề tài, chịu trách DHQGHN nhiém chung TS. Nguyén Thi Hanh Trường DHKHTN- | Thu ký khoa học + Thành viên DHQGHN thực hiện chính TS.
Lê Thị Hoàng Oanh Trường ĐHKHTN- Thành viên thực hiện chính ĐHQGHN TS. Lê Anh Tuấn Trường ĐHKHTN- Thành viên thực hiện chính ĐHQGHN TS. Phạm Thanh Đồng Trường ĐHKHTN- Thành viên ĐHQGHN TS. Nguyễn Minh Việt Trường ĐHKHTN- Thành viên ĐHQGHN 7 ThS.
Phạm Hùng Sơn Trường ĐHKHTN- Thành viên ĐHQGHN Ngoài ra, đê tài còn có sự tham gia của 01 học viên cao học với vai trò kĩ thuật viên 1. Don vị chủ trì: Trường Dai học Khoa học Tự nhiên, DHQGHN 1. Thời gian thực hiện: 1. Theo hợp đồng: từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 12 năm 2020 1.
Gia hạn (nếu có): đến tháng 12 năm 2021 1. Thực hiện thực tế: từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 12 năm 2021. Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có): không 1. Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 400 triệu đồng.
TONG QUAN KET QUÁ NGHIÊN CỨU 1. Đặt van đề Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa — hiện đại hóa với một số ngành kinh tế chủ lực, trong đó ngành nông nghiệp và lâm nghiệp là hai ngành mũi nhọn chiếm tỷ trọng cao trong cả nước so với các ngành khác. Nguyên nhân do nông nghiệp là ngành sản xuất ra nguôn lương thực, thực phẩm chủ yếu cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, đóng góp vai trò không nhỏ vào tăng trưởng GDP của Việt Nam. Còn ngành lâm nghiệp từ trước đến nay vẫn luôn giữ vững được vị thế của mình do nước ta có khí hậu nhiệt đới với % diện tích đất tự nhiên là đổi núI, các điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng rất thuận lợi cho sự phát ttriển sản xuất lâm nghiệp để cung cấp gỗ nguyên liệu, dược liệu và các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, hàng năm lượng phế thải sản sinh ra từ quá trình sản xuất, chế biến nông, lâm nghiệp là rất lớn với thành phần chất thải đa đạng, nhiều loại khó phân hủy tự nhiên và khó xử lý, đặc biệt là các chất thải giàu hàm lượng lignocellulose. Ngoài ra, ở các địa phương có thế mạnh về sản xuất, chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp, vân đề về bãi chứa chất thải, nguy cơ đe dọa ô nhiễm môi trường và ảnh hưởngcủa chúng đến sức khỏe cộng đồng đang là vấn đề bức xúc và nhận được sự quan tâm ngày càng nhiều của các nhà quan lý, nhà sản xuất, nhà nghiên cứu. Trên cơ sở đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có thé thay rang các nghiên cứu về xử lý phế thải nông nghiệp để làm phân hữu cơ (PHC) và than sinh học (TSH) đã có rất nhiều, 1 '"0P nguồn nguyên liệu lignocellulose cần xử lý cũng rất đa dang. Tuy nhiên, các nghiên cứu dé chế tạo ra phân bón chất lượng từ các nguồn nguyên liệu giàu li gnocellulose như bã thải rau mầm (BTRM), bã thải dong riềng (BTDR), mùn cưa cây Keo để phục vụ cải tạo đất còn rất ít và chưa đầy đủ thông tin, vì vậy nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu bổ sung thêm cơ sở khoa học và dữ liệu về một sô loại phân bón được sản xuất từ nguồn phụ phẩm nông, lâm nghiệp (PHC từ BTRM, BTDR; phân TSH từ mùn cưa; phân nhả chậm (PNC) trên cơ sở than sinh học và phân khoảng) và ứng dụng của chúng trong cải tạo đất xám bạc màu, nâng cao năng suất cây trồng.
Mục tiêu nghiên cứu: - Đánh giá được tiềm năng sản xuất phân hữu cơ, phân than sinh học chất lượng cao, có. mức độ khoáng hóa chậm từ phụ phẩm nông, lâm nghiệp (bã thai dong riềng, bã thải trồng rau mầm, mùn cưa). - Có được quy trình sản xuất phân hữu cơ, phân than sinh học chất lượng cao, mức độ khoáng hóa chậm từ bã thải dong riềng, bã thải trồng rau mâm, mùn cưa. - Xác định được hiệu quả cải tạo đất và hiệu quả sử dụng các loại phân bón đã sản xuất trên cây trồng (quy mô phòng thí nghiệm).
Nội dung nghiên cứu: - Phân tích tiềm năng nguyên liệu lignocellulose và khả năng sử dụng chúng để sản xuất phân bón chất lượng cao, mức độ khoáng hóa chậm. - Nghiên cứu quy trình xử lý phế phụ phâm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ - Nghiên cứu chế tạo phân than sinh học từ phế phụ phẩm lâm nghiệp - Nghiên cứu chế tạo phân bón chất lượng cao, khoáng hóa chậm (nhả chậm) - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến cải tạo đất và năng suất, chất lượng cây trồng. Phương pháp nghiên cứu 3. Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Thu thập các tài liệu thứ cấp (sách, báo, đề tài nghiên cứu.) liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Thu thập các báo cáo, thông tin ở cơ quan quản lý địa phương, điều tra, phỏng vấn người sản xuất ở một số nơi có nguồn BTRM, BTDR, mùn cưa keo của khu vực Hà Nội. Phương pháp xử lý vật liệu lignocellulose để tạo ra phân bón: Phơi khô toàn bộ lượng phế thải nông lâm nghiệp (BTRM, BTDR, min cưa cây keo, rom ra, thân cây đậu tương). Phương pháp xử lý bã thai rau mam, bã thải dong riêng dé sản xuất phân hữu cơ: Cắt nhỏ, làm đồng déu kích thước (3-4cm) các nguyên liệu trước khi chúng được xử lý đề làm PHC; Dựa trên độ âm, tỉ lệ C/N của hỗn hợp nguyên liệu đầu vào, tiến hành điều chỉnh để độ ẩm đống ủ đạt 50-60%, tỉ lệ C/N đạt khoảng 30:1 là điều kiện thuận lợi cho các VSV hoạt động và tăng cường phân giải để tạo ra PHC. Tất cả các công thức ủ PHC đều sử dụng chế phẩm vi sinh COMPOST MAKER của Viện Thổ nhưỡng nông hóa và một số chất phụ gia làm cơ chất hỗ trợ cho hoạt động của VSV (ri mật, cám gạo).
Các công thứcủ phân hữu cơ như sau: CT1 (ĐC): 100% BTRM hoặc BTDR (20kg) + 200g COMPOST MAKER + Nguyên liệu bé sung (uré, 2kg cám gạo, 200 ml ri mat); CT2: 60% BTRM hoặc BTDR (12kg) + 40% rom ra khô (8kg) + 200g COMPOST MAKER + Nguyên liệu bé sung (uré, 2kg cám gạo, 200 ml ri mật); CT3: 60% BTRM hoặc BTDR (12kg) + 40% phân bò khô (8kg) + 200g COMPOST MAKER + Nguyên liệu bổ sung (urê, 2kg cám gạo, 200 ml ri mật); CT4: 60% BTRM hoặc BTDR (12kg) + 40% thân cây đậu tương khô (8kg) + 200g COMPOST MAKER + Nguyên liệu bé sung (urê, 2kg cám gạo, 200 ml ri mat); Việc phối trộn BTRM, BTDR với các phụ phâm nông nghiệp khác sẽ làm tăng độ thoáng khí va tăng hàm lượng các chất dinh đưỡng cho hỗnhop ủ. Nguyên liệu được ủ trong các thùng nhựa 120L đã đục 25 lỗ ở xung quanh, ở đáy và ở trên nap. Tiến hành dao trộn đốngủ mỗi tuần một lần. Phương pháp xử lý mùn cưa cây keo dé tao phân than sinh hoc: Min cưa được sơ chế loại bỏ những mảnh gô lớn, sàng qua rây để thu được nguyên liệu thô có kích thước đồng nhất 1 ;5-2mm, sây khô ở nhiệt độ 105°C trong thời gian 24 giờ trước khi được nhiệt phân bằng lò nung yếm khí Nabertherm theo dạng mẻ với tốc độ gia nhiệt 5°C/phút.
Tiến hành khảo sát các yêu tô ảnh hưởng 2 đến quá trình tạo và chất lượng của TSH như nhiệt độ nung (250°C, 300°C, 350°C, 400°C, 450°C, 500°C) và thời gian nung (1 giờ, 1 giờ 30 phút, 2 giờ, 2 giờ 30 phút, 3 giờ). Thông qua đánh giá đặc tính hóa lý của TSH, lựa chọn ra nhiệt độ, thời gian nung tôi ưu mùn cưa để tạo ra TSH với mục đích làm phân bón trong nông nghiệp. Phương pháp tạo phân nha chậm từ than sinh học và phân khoáng: Dé tạo ra PNC cần sử dụng các nguyên liệu như TSH tốt nhất được tạo ra ở mục (b); phân khoáng (urê, (NH4)2HPO., KCI); bentonite và polyme natri alginate. Trong đó bentonite được sử dụng làm chất mang giúp tăng độ bền cơ học cho PNC.
Polyme natri alginate có nồng độ 2% w/V được sử dụng làm chất kết đính (bọc) các nguyên liệu với nhau và tạo viênphân. PNC được tạo ra phải dap ứng QCVN 01-189:2019/ BNNPTNT đối với phân NPK hỗn hop (tổng hàm lượng N, PzOs, K2O > 18%). Với mục đích sử dụng PNC chocây rau cải xanh vì vậy tỉ lệ N : P2Os: KaO của PNC phải đạt được theo mục tiêu là 15: 7,5: 10. Đề tài đã lựa chọn cố định tỉ lệ N : P2Os: KaO của phân khoáng ban đầu trong thành phần nguyên liệu là 20: 10: 12 là tỉ lệ tương đối phù hợp cho cây rau cải.
Với mục tiêu sử dụng TSH làm chất nền chính cho PNC nên tỉ lệ TSH được sử dụng phải chiếm tỉ lệ lớn so với các nguyên liệu còn lại và cũng cần sử dụng lượng tối thiểu polyme để kết dính TSH cùng các nguyên liệu khác. Vì vậy lượng TSH được sử dụng trong nghiên cứu là 51%. Lượng nguyên liệu còn lại sẽ là bentonite (7%). Tiến hành khảo sát các liều lượng polyme khác nhau ( 1%, 5%, 10%, 15%, 20% so với tổng khối lượng các nguyên liệu chính) dé kết đính nguyên liệu, tạo viên phân và giữ được dinh đưỡng cho PNC.
Với ti lệ bé sung polyme là 1%, 5% các nguyên liệu không tạo được viên phân, tỉ lệ polyme từ 10% - 20% có thể tạo được viên phân. Tuy nhiên, sử dụng tỉ lệ polyme là 10% viên phân không đạt yêu cầu về hàm lượng NPK.