Tổng quan nghiên cứu
Khu vực bờ biển huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang với tổng chiều dài 32km giữ vai trò xung yếu trong phát triển kinh tế biển và bảo vệ an ninh quốc phòng của vùng duyên hải phía Đông đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, dưới tác động tổng hợp của biến đổi khí hậu và áp lực nhân sinh, khu vực này đang đối mặt với tình trạng xói lở bờ biển và suy thoái rừng ngập mặn đặc biệt nghiêm trọng. Số liệu quan trắc thực tế ghi nhận tốc độ xói lở trung bình toàn tuyến dao động từ 10m đến 15m/năm trong giai đoạn 1991 đến 2014, cá biệt tại một số điểm nóng sạt lở lên tới 28m/năm, phá vỡ thế cân bằng động lực đới bờ.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật Địa chất tập trung làm sáng tỏ bản chất các quá trình thủy - thạch động lực, nguyên nhân gây xói lở bờ biển và suy thoái dải rừng ngập mặn phòng hộ. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng mô hình toán dự báo xu thế biến động đường bờ và đề xuất hệ thống giải pháp công trình, phi công trình đồng bộ nhằm phòng chống sạt lở bền vững.
Phạm vi nghiên cứu bao quát vùng ven bờ thuộc 4 xã và thị trấn trọng điểm: Vàm Láng, Kiểng Phước, Tân Điền và Tân Thành, giới hạn trong tọa độ 106°40'50" đến 106°47'40" kinh độ Đông và 10°15'35" đến 10°25'45" vĩ độ Bắc. Chuỗi dữ liệu thời gian được phân tích liên tục từ năm 1991 đến 2015. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn cấp thiết, cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp bảo vệ an toàn cho hệ thống đê biển dài 21,85km, bảo vệ không gian sinh tồn của 142.820 người dân địa phương và hơn 2.768ha diện tích nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hình thái động lực học bờ biển (Coastal Morphodynamics), kết hợp thuyết tương tác sóng - dòng chảy ven bờ và nguyên lý cân bằng ngân sách trầm tích (Sediment Budget). Luận văn làm sâu sắc 4 khái niệm khoa học trọng tâm:
- Hình thái bờ biển chuyển tiếp giữa cửa sông triều chiếm ưu thế tại luồng Soài Rạp (lạch sâu đạt cao trình âm 10m đến âm 11m) và đồng bằng triều chiếm ưu thế tại cửa Tiểu.
- Chế độ bán nhật triều không đều của Biển Đông với biên độ triều dao động từ 3,0m đến 3,5m và tốc độ truyền triều qua cửa Soài Rạp đạt 3m/s, nhanh gấp 1,5 lần sông Hậu và 3 lần sông Hồng.
- Cơ chế dòng chảy dọc bờ sinh ra do trường sóng vỡ khi tiến vào vùng bãi triều có độ dốc thoải từ 1/1000 đến 5/1000.
- Khả năng tiêu tán năng lượng sóng và giữ bùn cát của thảm rừng ngập mặn đới bờ.
Mô hình số trị thủy lực 2 chiều MIKE 21 do Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển được tích hợp với 3 module chuyên sâu: MIKE 21 SW (mô phỏng lan truyền phổ sóng), MIKE 21 HD (mô phỏng trường dòng chảy thủy lực) và MIKE 21 ST (tính toán vận chuyển bùn cát và biến đổi đáy). Mô hình tái hiện chi tiết tương tác năng lượng giữa trường sóng gió mùa Đông Bắc vận tốc 8m/s đến 14m/s với nền trầm tích bở rời ven bờ.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích ảnh viễn thám đa thời gian kết hợp hệ thống thông tin địa lý GIS để lượng hóa biến động đường bờ. Chuỗi dữ liệu gồm 7 cảnh ảnh vệ tinh độ phân giải cao thu thập từ Cục Địa chất Hoa Kỳ và hệ thống SPOT: Landsat 4-5 TM (độ phân giải 30m năm 1991, 1997, 2000, 2006), SPOT (độ phân giải 2,5m năm 2010, 2014) và Landsat 8 OLI (năm 2015). Các ảnh được chuẩn hóa về hệ tọa độ UTM WGS84, ứng dụng tổ hợp tỷ số phổ kênh TM5-2 để tách chiết chính xác đường mép nước trước khi chồng xếp trên MapInfo.
Phương pháp khảo sát thực địa được thiết kế với cỡ mẫu gồm 12 vị trí lấy mẫu lõi trầm tích đáy và 8 điểm quan trắc chất lượng nước biển ven bờ. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo các mặt cắt ngang vuông góc với bờ biển được áp dụng nhằm đại diện cho từng vùng địa mạo từ Vàm Láng đến Tân Thành. Dữ liệu sóng, dòng chảy và mực nước được đo đạc đồng bộ tại thực địa trong cả 2 mùa gió: gió Tây Nam (tháng 7 và tháng 9/2014) và gió Đông Bắc (tháng 12/2014 và tháng 1/2015).
Việc lựa chọn mô hình toán MIKE 21 kết hợp công nghệ viễn thám GIS là giải pháp tối ưu, cho phép kiểm chứng chéo các kết quả đo đạc gián đoạn ngoài hiện trường, đồng thời mô phỏng liên tục trường thủy động lực học trên diện rộng mà các phương pháp quan sát truyền thống không thể bao quát.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, diễn biến xói lở đường bờ giai đoạn 1991 đến 2014 diễn ra với cường độ mạnh và có sự dịch chuyển không gian rõ nét. Giai đoạn 1991-2000 ghi nhận tốc độ xói lở trung bình 11m/năm, đỉnh điểm lên tới 28m/năm tại khu vực giáp ranh xã Tân Thành và Tân Điền. Giai đoạn 2000-2010 xói lở lan rộng toàn tuyến với tốc độ bình quân 10m/năm. Giai đoạn 2010-2015, tâm điểm xói lở chuyển dịch mạnh về phía xã Kiểng Phước khiến diện tích rừng phòng hộ tại đây sụt giảm 11,8% chỉ sau 5 năm, từ 224,8ha năm 2010 xuống còn 198,3ha năm 2015.
Thứ hai, diện tích thảm rừng ngập mặn phòng hộ suy thoái nghiêm trọng tới mức báo động. Tổng diện tích rừng dải ven biển từ Vàm Láng đến Tân Thành giảm từ 551,25ha năm 2006 xuống còn 285,19ha năm 2011, tương đương mức suy giảm 48,3% chỉ trong vòng 5 năm. Nhiều đoạn bờ tại xã Tân Điền và Tân Thành đã mất hoàn toàn đai rừng đệm chắn sóng, khiến chân đê biển phải tiếp xúc trực tiếp với năng lượng sóng biển.
Thứ ba, trường sóng mùa gió Đông Bắc là nhân tố động lực ngoại sinh chi phối mạnh nhất đến quá trình xói lở. Kết quả mô phỏng cho thấy chiều cao sóng ven bờ trong kỳ gió Đông Bắc đạt từ 0,8m đến 1,2m với hướng sóng Đông Nam tác động trực diện vào thân đê. Ngược lại, trong kỳ gió Tây Nam với cùng cấp gió, chiều cao sóng ven bờ chỉ dao động từ 0m đến 0,2m do bị che chắn bởi bán đảo Cà Mau.
Thứ tư, môi trường thổ nhưỡng và chất lượng nước bị thoái hóa nặng nề. Nền đất rừng toàn tuyến bị chua hóa với độ pH phổ biến từ 4,0 đến 5,0 và độ mặn cao từ 34‰ đến 43‰. Hàm lượng mùn hữu cơ tại các khu vực mất rừng ở Bắc Tân Thành và Tân Điền giảm xuống dưới 1,0%, so với mức 13,8% ở các phân lớp đất sâu nơi rừng còn nguyên vẹn tại Vàm Láng, làm suy giảm hoàn toàn khả năng bám rễ và tái sinh tự nhiên của cây con.
Thảo luận kết quả
Cơ chế gây xói lở bờ biển Gò Công Đông là kết quả của sự tác động cộng hưởng giữa các yếu tố tự nhiên khắc nghiệt và các hoạt động can thiệp nhân sinh thiếu quy hoạch. Về tự nhiên, đường bờ có hướng Bắc - Nam đối diện trực tiếp với hướng truyền sóng thịnh hành mùa gió chướng. Dòng triều rút qua cửa Soài Rạp có vận tốc lên tới 3m/s tạo thành lực cắt đáy lớn, cuốn trôi các vật liệu cát mịn và bùn sét bở rời ra ngoài khơi xa.
Về nhân sinh, phong trào đắp bờ bao phá rừng nuôi tôm từ năm 1985 và việc mở rộng hơn 2.150ha bãi nuôi nghêu đã làm thay đổi địa hình vi mô bãi triều, triệt tiêu đai cây ngập mặn có chức năng giảm sóng. Khi đai rừng bị mất, sóng đánh trực tiếp vào chân kè gây xói ngầm và sụp đổ mái đê.
Để biểu diễn trực quan các phát hiện trên, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột thể hiện tương quan giảm dần của diện tích rừng ngập mặn theo các mốc 2006, 2011 và 2015, kết hợp với bảng ma trận thống kê chiều cao sóng có nghĩa và vận tốc dòng chảy tương ứng với từng cấp gió Đông Bắc. Bản đồ vector hóa đường bờ đa thời gian minh chứng rõ nét xu thế lùi sâu của mép nước vào đất liền. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu tại vùng bờ biển Bến Tre và Trà Vinh, nhưng mức độ xói lở tại Gò Công Đông gay gắt hơn 20% do nằm kẹp giữa hai cửa sông lớn có chế độ thủy động lực vô cùng phức tạp.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Xây dựng tuyến đê ngầm phá sóng dạng rời ngoài khơi: Lắp đặt 3,5km đê ngầm phá sóng bằng cấu kiện bê tông rỗng rạn san hô nhân tạo Reef Ball hoặc đê đá đổ cách chân đê hiện hữu từ 300m đến 500m. Mục tiêu giảm 60% đến 70% năng lượng sóng tác động trực tiếp vào bờ, tạo vùng nước tĩnh phía trong để kích thích bồi tụ bùn cát. Thời gian thực hiện: 2016-2020. Chủ thể chịu trách nhiệm: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang chủ trì, phối hợp với Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng công trình Nông nghiệp tỉnh.
-
Nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống kè mái nghiêng bảo vệ đê xung yếu: Thi công gia cố 5,2km kè bảo vệ đê tại các đoạn bờ xã Tân Thành và Tân Điền bằng cấu kiện bê tông tự chèn TSC-178 kết hợp thảm đá bọc vải địa kỹ thuật, nâng cao trình đỉnh đê từ dương 3,0m lên dương 4,0m đạt chuẩn đê biển cấp III đồng bằng. Thời gian thực hiện: 2016-2018. Chủ thể chịu trách nhiệm: Chi cục Thủy lợi tỉnh Tiền Giang và Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông.
-
Phục hồi sinh thái và trồng mới đai rừng ngập mặn chắn sóng: Triển khai trồng mới và phục hồi 150ha rừng ngập mặn hỗn giao gồm các loài cây tiên phong như bần chua, mắm trắng và đước đôi, kết hợp cắm cọc tre giữ phù sa tạo bãi, bảo đảm duy trì bề rộng đai rừng phòng hộ tối thiểu 200m phía trước đê. Thời gian thực hiện: 2017-2022. Chủ thể chịu trách nhiệm: Ban Quản lý Rừng phòng hộ Gò Công Đông phối hợp cùng cộng đồng dân cư địa phương.
-
Thiết lập hệ thống quan trắc viễn thám và kiểm soát xả thải ven bờ: Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS cập nhật định kỳ 6 tháng một lần về diễn biến đường bờ và chất lượng môi trường nước, đồng thời kiểm tra nghiêm ngặt quy chuẩn xả thải đối với 618ha đầm nuôi tôm công nghiệp và vùng nuôi nghêu ven biển. Thời gian thực hiện: Định kỳ hàng năm từ năm 2016. Chủ thể chịu trách nhiệm: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quy hoạch phòng chống thiên tai: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy lợi và Ủy ban nhân dân các cấp sử dụng cơ sở dữ liệu thủy thạch động lực và bản đồ dự báo xói lở để phê duyệt các kế hoạch đầu tư công trình bảo vệ bờ biển trung và dài hạn.
- Kỹ sư công trình thủy công và các viện nghiên cứu địa kỹ thuật ven biển: Các đơn vị tư vấn thiết kế khai thác các thông số mô phỏng trường sóng, dòng chảy cực trị và đánh giá hiệu quả của các dạng kết cấu giảm sóng (đá đổ, khối tứ diện Trị An, cấu kiện Reef Ball) làm tài liệu thiết kế công trình trên nền đất yếu.
- Chuyên gia lâm nghiệp và nhà khoa học môi trường sinh thái: Cán bộ quản lý rừng phòng hộ ứng dụng kết quả phân tích thổ nhưỡng, độ mặn 34‰ đến 43‰ và kỹ thuật gieo ươm cây con nhằm khôi phục thành công các thảm rừng ngập mặn bị suy thoái.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kỹ thuật Địa chất, Quản lý Đới bờ và Hải văn: Khai thác quy trình tích hợp công nghệ ảnh viễn thám Landsat, SPOT với mô hình toán MIKE 21 như một bài học điển hình phục vụ đào tạo và nghiên cứu học thuật chuyên sâu.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao bờ biển Gò Công Đông lại bị xói lở dữ dội nhất vào mùa khô?
Mùa khô tại khu vực nghiên cứu gắn liền với hoạt động của gió mùa Đông Bắc (gió chướng) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với vận tốc gió mạnh từ 8m/s đến 14m/s. Hướng gió này thổi trực diện vào bờ biển có phương Bắc - Nam, tạo ra trường sóng ven bờ cao 0,8m đến 1,2m kết hợp biên độ triều 3,5m gây bóc mòn và cuốn trôi 10m đến 15m đất bờ mỗi năm.
Rừng ngập mặn bị suy thoái ảnh hưởng như thế nào đến sự ổn định của đê biển?
Rừng ngập mặn có tác dụng giảm trên 50% năng lượng sóng vỡ và giữ chặt bùn cát nhờ hệ rễ chằng chịt. Khi diện tích rừng bị suy giảm 48,3% trong giai đoạn 2006 đến 2011 do chặt phá làm đầm tôm, sóng biển đánh trực diện vào thân đê gây xói chân, sụt lún và nứt nẻ hàng loạt đoạn kè bảo vệ tại xã Tân Điền và Tân Thành.
Phương pháp phân tích ảnh viễn thám GIS mang lại độ chính xác như thế nào trong đề tài?
Việc tích hợp chuỗi 7 ảnh vệ tinh Landsat và SPOT đa thời gian (1991-2015) với chỉ số tỷ số kênh phổ TM5-2 cho phép trích xuất chính xác đường mép nước với độ phân giải lên đến 2,5m. Phương pháp này định lượng khách quan tốc độ xói lở trung bình 11m/năm trên toàn tuyến 32km, khắc phục hạn chế về không gian và thời gian của các đợt đo đạc thủ công.
Vì sao giải pháp xây kè mái nghiêng đơn thuần không mang lại hiệu quả chống xói lở lâu dài?
Kè mái nghiêng bảo vệ bờ tiếp xúc trực tiếp với sóng lớn mùa gió chướng và chịu hiện tượng xói ngầm chân công trình do dòng chảy đáy mạnh. Khi không có đê ngầm phá sóng ngoài khơi và rừng cây đệm phía trước, nền trầm tích cát bùn bở rời với độ dốc 1/1000 đến 5/1000 sẽ nhanh chóng bị xói rỗng, dẫn đến hiện tượng trượt gãy tấm đan bê tông.
Giải pháp kỹ thuật tổng thể nào được đánh giá là tối ưu nhất cho khu vực Gò Công Đông?
Luận văn khẳng định mô hình kết hợp đa tầng là tối ưu nhất: xây dựng tuyến đê ngầm phá sóng dạng rời xa bờ (cấu kiện Reef Ball hoặc đá đổ) cách 300m đến 500m để giảm 60% đến 70% sóng ngoài khơi, kết hợp tôn cao đê biển đạt chuẩn cấp III (+4,0m) và trồng phục hồi đai rừng ngập mặn rộng trên 200m để bồi tụ phù sa bền vững.
Kết luận
- Luận văn đã định lượng chính xác tốc độ xói lở bờ biển Gò Công Đông trung bình 10m đến 15m/năm và tối đa 28m/năm trong giai đoạn 1991 đến 2014 thông qua chuỗi ảnh viễn thám đa thời gian Landsat và SPOT.
- Nghiên cứu đã làm sáng tỏ nguyên nhân cốt lõi gây sạt lở là do tương tác bất lợi giữa sóng gió mùa Đông Bắc (chiều cao sóng 0,8m đến 1,2m) với sự suy thoái 48,3% diện tích rừng ngập mặn phòng hộ đới bờ.
- Mô hình số trị MIKE 21 được thiết lập và kiểm định thành công, tái hiện chuẩn xác trường sóng, dòng chảy ven bờ và dự báo xu thế xói lở tiếp diễn tại khu vực Kiểng Phước và Tân Thành.
- Đề tài đã đề xuất hệ thống giải pháp công trình kết hợp phi công trình đồng bộ, trọng tâm là đê ngầm phá sóng ngoài khơi và trồng rừng ngập mặn thay thế cho giải pháp kè bờ thụ động đơn lẻ.
- Công trình cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu địa chất công trình tin cậy phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế và quản lý bền vững đới bờ tỉnh Tiền Giang.
Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 đến 2020, các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng triển khai dự án thử nghiệm đê ngầm phá sóng Reef Ball và mở rộng chương trình phục hồi 150ha rừng phòng hộ ven biển. Quý độc giả và các nhà quản lý hãy tham khảo ngay toàn văn công trình nghiên cứu này để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn bảo vệ bờ biển Việt Nam.