CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG 1. Điều kiện địa lý tự nhiên 1. Giới thiệu Gò Công Đông là một huyện duyên hải phía Đông tỉnh Tiền Giang, với đường bờ biển dài 32km. Toàn Huyện có diện tích khoảng 270km2.
Huyện có 13 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các thị trấn: Tân Hòa, Vàm Láng và các xã: Tân Điền, Tăng Hòa, Phước Trung, Bình Ân, Tân Đông, Bình Nghị, Gia Thuận, Kiểng Phước, Tân Phước, Tân Thành, Tân Tây. Trong đó, thị trấn Vàm Láng và các xã Tân Điền, Kiểng Phước và Tân Thành là vùng trực tiếp giáp với biển Đông. Vị trí này rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản. Và vùng ven biển của huyện được bao bọc bởi dải rừng ngập mặn đang ngày càng suy thoái trước các tác động của điều kiện tự nhiên.
Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu chính là vùng ven biển Gò Công tức thuộc địa phận các xã Vàm Láng, Kiểng Phước, Tân Điền, và Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, nằm ở tọa độ 106°40'50” đến 106o47’40” kinh độ Đông và 10°15'35” đến 10°25'45” vĩ độ Bắc. Ranh giới vùng nghiên cứu được xác định cụ thể như sau: - Phía Bắc: Giáp sông Soài Rạp. - Phía Nam: Giáp sông cửa Tiểu. - Phía Đông: Giáp biển Đông.
- Phía Tây: Là tuyến đê biển Gò Công Đông 1. Đặc điểm địa hình Dải ven bờ biển Gò Công Đông có địa hình tương đối bằng phẳng, khuynh hướng thấp dần từ Bắc đến Nam và từ Tây sang Đông, cao độ trung bình mặt đất tự nhiên khoảng +0.8m, cao nhất là khoảng +1.4m, thấp nhất khoảng +0. Với cao độ mặt đất tự nhiên thấp như vậy, sự hiện Trang 5 diện của đê biển giúp bảo vệ nội đồng không bị nước biển xâm nhập vào sâu, đặc biệt là lúc triều cường hay khi có bão kết hợp triều cường. Bãi biển Gò Công tương đối thoải với độ dốc 1– 5×10-3.
Gò Công Đông Hình 1-1. Vị trí, phạm vi nghiên cứu 1. Đặc điểm khí hậu Khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung cũng như vùng bờ biển Gò Công Đông nói riêng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Khí hậu được phân chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thường đi kèm với gió mùa Tây Nam; Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió thịnh hành phổ biến trong thời kỳ này là gió mùa Đông Bắc.
Nhiệt độ Nhiệt độ trong khu vực là tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm 2013 tại trạm đo Mỹ Tho là 27. Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong năm là không nhiều, chỉ từ 3 – 4oC. Nhiệt độ thấp nhất trong năm thường rơi vào khoảng tháng 12 đến tháng 1 năm sau (25 – 26oC). Sau đó nhiệt độ tăng dần, đến khoảng tháng 3 – 4 thì thời tiết trở nên nóng bức nhất trong năm Trang 6 (29 – 30oC).
Nhiệt độ cao còn kéo dài cho tới tháng 5. Hình 1-2 thể hiện nhiệt độ trung bình tháng từ năm 2010 đến 2013 tại trạm đo Mỹ Tho. 31 30 29 Nhiệt độ (oC) 28 2010 27 2011 26 2012 25 2013 24 23 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng Hình 1-2. Nhiệt độ trung bình tháng nhiều năm (2010 – 2013) tại Mỹ Tho 1.
Độ ẩm Gò Công là nơi quanh năm có nền nhiệt độ cao nên lượng bốc hơi thoát nước lớn. Tổng giờ nắng trung bình năm 2013 là 2340. Trong đó, số giờ nắng mùa khô cao hơn nhiều so với mùa mưa. Độ ẩm tương đối thấp nhất trong năm rơi vào khoảng tháng 3 (74%) và lớn nhất vào tháng 9 (88%).
Độ ẩm trung bình cả năm của năm 2013 là 78. 90 85 Độ ẩm (%) 80 2010 2011 75 2012 70 2013 65 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng Hình 1-3. Độ ẩm trung bình tháng nhiều năm (2010 – 2013) tại Mỹ Tho Trang 7 1. Chế độ mưa Lượng mưa trong năm phân bố không đồng điều, mưa thường tập trung trong các tháng 5 – 10, tương ứng với chế độ gió mùa Tây Nam.
Tại trạm Mỹ Tho, tổng lượng mưa bình quân mùa mưa trong năm 2013 là 986.5mm, chiếm 80 – 85% lượng mưa cả năm. Mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gắn liền với gió Đông Bắc ít ẩm, lượng mưa thường nhỏ. Tổng lượng mưa trung bình mùa khô năm 2013 là 306 mm, chiểm 15 -20% tổng lượng mưa cả năm. So sánh bảng phân bố lượng mưa và nhiệt độ giữa các tháng trong năm tại khu vực nghiên cứu, với lượng mưa nhỏ lại rơi vào lúc nhiệt độ lên cao, làm lượng bốc hơi nước cao, khiến nước trong các đầm lầy rừng ngặp mặn luôn trong tình trạng độ mặn lớn.
Điều này gây khó khăn cho đời sống của dải rừng ngập mặn. Nên trong những này gần đây, dù tỉnh ra sức khôi phục lại dải rừng phòng hộ nhưng vẫn không đạt được hiệu quả. Hình 1-4 thể hiện lượng mưa trung bình tháng từ năm 2010 đến 2013 tại trạm đo Mỹ Tho. 400 350 Lượng mưa (mm) 300 250 2010 200 2011 150 100 2012 50 2013 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng Hình 1-4.
Lượng mưa tháng trung bình nhiều năm (2010 – 2013) tại Mỹ Tho 1. Chế độ gió Hàng năm vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của chể độ gió mùa. Với hai hướng gió chính ứng với hai mùa là: gió mùa Tây Nam, ứng với mùa mưa; Và gió mùa Đông Bắc, hay dân gian còn gọi là gió Chướng, ứng với mùa khô. Bảng 1-1 thể hiện phân bổ gió mùa trong năm.
Phân bố gió mùa hàng năm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Mùa khô Mùa Mưa Mùa khô Gió mùa Đông Bắc Gió mùa Tây Nam Gió mùa Đông Bắc Gió mùa Tây Nam thường bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến hết tháng 9. Hướng gió thịnh hành trong thời kỳ gió mùa Tây Nam là Tây Tây Nam, Tây Nam và Tây, trong đó chủ yếu là hướng Tây Nam. Vận tốc gió trung bình theo hướng này là từ 4 - 6 m/s, tốc độ lớn nhất vào khoảng 8-10 m/s. Hình 1-5 thể hiện hoa gió đo tại trạm Bạch Hổ (tọa độ: 108o00’, 10o31’ ) và tại vị trí ven biển Bến Tre, cách bờ khoảng 10 km (tại tọa độ: 106o52’29.78”) là kết quả từ mô hình khí tượng toàn cầu CFSR của NOAA (National Oceanic and Atmospheric Administration) từ năm 2000 - 2010.
N D:\RESEARCH PROJECTS\XOILOGOCONG\DATA\Thuy Van\NOAA\WIND\wnd10m.dfs0 N Wind speed (m/s) Above 18 16 - 18 14 - 16 Calm Calm 12 - 14 4.95 % 10 - 12 Wind speed (m/s) 8 - 10 6- 8 Above 12 10 - 12 4- 6 8 - 10 2- 4 6- 8 10 % Below 2 4- 6 2- 4 10 % Below 2 (a) (b) Hình 1-5. (Nguồn:Lê Mạnh Hùng, Nguyễn Duy Khang và nnk, 2010) Gió mùa Đông Bắc thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Gió thường thổi theo hướng: Đông Bắc, Đông và Đông Nam, trong đó chủ yếu là hướng Đông và Đông Bắc. Vận tốc gió trung bình đạt khoảng 8 – 10 m/s, cao nhất là từ 12 – 14 m/s.
Như vậy có thể thấy vào mùa gió Đông Bắc, vận tốc gió trung bình cao hơn so với vận tốc trung bình vào mùa gió mùa Tây Nam. Hơn nữa, gió mùa Đông Bắc có hướng gió gần như trực diện với đường bờ biển, có tần suất gió vượt trội, và tốc độ gió cũng lớn hơn nhiều so với gió mùa Tây Nam, nên có thể thấy gió mùa Đông Bắc là hướng gió chính chi phối Trang 9 đến quá trình xói lở bờ biển của khu vực nghiên cứu, vì gió là yếu tố ngoại sinh chính tạo ra sóng, cũng như chi phối đến các dòng hải lưu và dòng chảy ven bờ. Thống kê tần suất gió theo hướng và cấp gió tại khu vực ven bờ Gò Công Đông năm 2000 – 2010 (Trích từ mô hình khí hậu toàn cầu CFSR). Cấp gió và tốc độ gió tương ứng (m/s) 0 1 2 3 4 5 6 7 8 Cộng Hướng gió 0÷ 0.
Đặc điểm thủy – hải văn Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều Biển Đông, chế độ gió mùa, cũng như chế độ dòng chảy của hệ thống sông Mekong và Sài Gòn – Đồng Nai. Chế độ triều ven bờ Gò Công Đông cũng như chế độ triều biển Đông, có dạng bán nhật triều không đều, biên độ triều tại các cửa sông từ 3. Đặc biệt, tốc độ truyền triều tại cửa Soài Rạp là khá nhanh đạt 3m/s, gấp 1.5 Trang 10 lần tốc độ truyền triều của sông Hậu và gấp 3 lần tốc độ truyền triều của sông Hồng (Nguyễn Ân Niên và nnk, 2007). [meter] Time Series Water Level 1.
Diễn biến mực nước thủy triều thực đo tại trạm Vũng Tàu từ 2007-2009 (Nguồn: Viện kỹ thuật Biển) Gió là yếu tố ngoại sinh chính tạo ra sóng, ngoài ra chế độ gió mùa nói trên cũng tạo ra các dòng hải lưu và dòng chảy ven bờ trái chiều nhau: dòng chảy mùa hè (gió mùa Tây Nam) đi từ Nam lên Bắc, và dòng chảy mùa đông (gió mùa Đông Bắc) hướng từ Bắc xuống Nam. Điều này cho thấy các quá trình thủy động lực ven bờ biển vùng nghiên cứu diễn ra khá phức tạp. Thổ nhưỡng – thảm thực vật Theo Nguyễn Ân Niên và cộng sự, 2007, phẫu diện đất khảo sát cho thấy lượng mùn thấp ở nơi rừng trồng bị tàn phá (khu vực bắc Tân Thành, Tân Điền), chỉ đạt 2.1%, đặc biệt ở bờ ven kênh đào ngoài đê (đoạn Tân Điền - Tân Thành) lượng mùn chỉ còn dưới 1%. Còn ở nơi rừng đang phục hồi thuộc xã Kiểng Phước và thị trấn Vàm Láng, lượng mùn khoảng 5.8%, đặc biệt nơi rừng phát triển tốt thuộc Vàm Láng, lượng mùn trong lớp đất sâu (40cm) lên đến gần 14%.
Nhìn chung, đất rừng toàn tuyến chua, độ pH phổ biến 4 đến lớn hơn 5 một ít, nghèo Kali (1. Đất đai trên địa bàn huyện Gò Công Đông được cấu tạo từ trầm tích biển và trầm tích sông châu thổ. Quá trình xâm nhập mặn từ khá lâu đời có ảnh hưởng lớn đến tính chất và đặc tính đất. Các loại đất trên địa bàn huyện chủ yếu là loại đất nhiễm mặn, nhất là đất vùng sát bờ, đất có độ mặn lớn từ 34 đến 43‰, cùng với độ pH thấp chứng tỏ nước lưu thông trong dải rừng kém.
Trang 11 Vùng ven biển Gò Công Đông, cũng như các vùng ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long, nổi tiếng với những dải rừng ngập mặn đa dạng chủng loại.