Chương I, Luật Khoa học và Công nghệ) 21 a) Triển khai thực nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới. b) Sản xuất thử nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. Như vậy khái niệm phát triển công nghệ của Luật Khoa học và Công nghệ tương đối giống hình thức triển khai. Khái niệm phát triển công nghệ ở đây có khác biệt với khái niệm phát triển công nghệ theo xu hướng hiện đang sử dụng phổ biến.
Đó là quá trình diễn ra trong sản xuất, tức là quá trình diễn ra sau D (hay sau P) (triển khai) và T (chuyển giao tri thức) không phải trong khu vực nghiên cứu, gồm: - Mở rộng công nghệ hiện hữu (extensive development) - Nâng cấp công nghệ hiện hữu (upgrading = intensive development) Hiện nay, phân loại của Bộ KH&CN cũng như các Sở KH&CN chủ yếu phân chia theo 3 hình thức R, R-D và P. Cần chú ý khái niệm R&D nhằm chỉ hoạt động bao gồm nghiên cứu khoa học R(AR+FR) và triển khai D. Dĩ nhiên, về cơ bản, không phải cách đặt ký tự là gì mà nội dung nghiên cứu và sản phẩm là gì. Cách phân chia này cần lưu ý hai vấn đề: - Cần làm rõ thế nào là một đề tài khoa học, thế nào là một kế hoạch, tác nghiệp của một đơn vị.
- Cần xác định rõ loại hình nghiên cứu. Hiện nay, trong quá trình tổ chức xét duyệt và nghiệm thu đề tài, vẫn còn lẫn lộn giữa các loại đề tài R-D, R, P, sẽ khó khăn trong đánh giá, quản lý đề tài khi có sự lẫn lộn này (không xác định rõ sản phẩm thì áp dụng thang điểm, yêu cầu sản phẩm không phù hợp). - Chưa triển khai các hoạt động phát triển công nghệ (theo nghĩa của nguyên lý phát triển công nghệ), đây chính là nguyên nhân dẫn đến giảm khả năng thương mại hóa sản phẩm khoa học. 22 - Cần triển khai công tác thẩm định kết quả nghiên cứu, sản phẩm nghiên cứu.
Đây là nhiệm vụ mang tính pháp lý hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phục vụ các yêu cầu đa dạng như hội thi sáng tạo kỹ thuật, khen thưởng, tranh chấp, kinh doanh, chuyển giao… Việc thẩm định không giới hạn đối với các công trình nghiên cứu từ ngân sách mà cho toàn bộ các thành phần xã hội, các công trình nghiên cứu từ nhiều nguồn. b) Sản phẩm phát triển công nghệ Sản phẩm của quá trình phát triển công nghệ thường là các giải pháp kỹ thuật. Theo pháp luật SHTT (Điểm b Khoản 3 Điều 25 Thông tư 01/2007/TT- BKHCN ngày 14.2007, một giải pháp kỹ thuật là một tập hợp cần và đủ các Thông tin về cách thức kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một nhiệm vụ hoặc vấn đề xác định. Các giải pháp kỹ thuật dạng sản phẩm có thể là : sản phẩm dạng vật thể (dụng cụ, máy mĩc, thiết bị, linh kiện, mạch điện …), sản phẩm dạng chất thể (vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm …) hoặc sản phẩm dạng vật liệu sinh học (gen, thực vật hoặc đơng vật biến đổi gen …) ; các giải pháp kỹ thuật dạng quy trình như : quy trình sản xuất, quy trình gia công, phương pháp kiểm tra, phương pháp xử lý … Theo quy định tại khoản 12, Điều 4 Luật Sở hữu Trí tuệ, sáng chế (invention) là một giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Cịn việc phát hiện ra các quy luật tự nhiên, theo cách hiểu được thừa nhận rộng rãi tại Việt Nam hiện nay, được gọi là sự phát minh (discovery). Như vậy, để có thể đi sâu hơn vào bản chất vấn đề, trước hết cần phân biệt kỹ hơn 2 khái niệm : “sáng chế” và “phát minh”. Sáng chế (tiếng Anh & tiếng Pháp: invention, tiếng Nga: izobretennijie) là giải pháp kỹ thuật mang tính mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp dụng được. Theo đó, sáng chế là kết quả của hoạt động phát triển công nghệ.
Mặt khác, mặc dù cũng tìm ra 23 mô hình và triển khai ứng dụng nhưng các mô hình quản lý, giáo dục, kinh tế… không được công nhận sáng chế. Phát minh hoặc Phát hiện (tiếng Anh: discovery, tiếng Pháp: découverte, tiếng Nga: otkrưtije) là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người. Như vậy, một phát minh thường là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học. Bản chất của phát minh hay phát hiện là tìm ra điều tồn tại khách quan và do đó, phát minh, phát hiện không trực tiếp mang lại giá trị thương mại như sáng chếù.
Bảng3 : Phân biệt giữa phát minh-phát hiện – sáng chế Sáng chế Phát minh/Phát hiện Nhận ra vật thể hoặc Tạo ra phương tiện mới Bản chất quy luật xã hội vốn tồn và nguyên lý kỹ thuật, tại chưa có trước đó Khả năng ứng dụng Có Không để giải thích thế giới Khả năng ứng dụng Không trực tiếp mà Có (trực tiếp hoặc phải vào sản xuất/cuộc phải thông qua các qua thực nghiệm) sống giải pháp vận dụng Thể hiện qua mua bán Giá trị thương mại Không patent và licence Bảo hộ tác phẩm theo luật Quyền tác giả, Bảo hộ quyền sở hữu Bảo hộpháp lý không bảo hộ bản thân công nghiệp các phát hiện-phát minh Tiêu vong theo sự tiến Tồn tại cùng lịch sử Tồn tại cùng lịch sử bộ công nghệ Việc phân định sản phẩm nghiên cứu khoa học là phát minh, phát hiện hay sáng chế … có ý nghĩa quan trọng trên nhiều mặt. Trong xác lập quyền sở hữu trí tuệ, việc xác lập quyền SHTT cho các phát minh và sáng chế được thực hiện theo các cơ chế khác nhau.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC & PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ 1.1 Nội dung quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Chương 6 Luật Khoa học và Công nghệ xác định cụ thể nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ như sau: Điều 49. Nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ bao gồm: 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, nhiệm vụ khoa học và công nghệ; 2.
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về khoa học và công nghệ; 3. Tổ chức bộ máy quản lý khoa học và công nghệ; 4. Tổ chức, hướng dẫn đăng ký hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ, qũy phát triển khoa học và công nghệ; 5. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; 6.
Quy định việc đánh giá, nghiệm thu, ứng dụng và công bố kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chức vụ khoa học; giải thưởng khoa học và công nghệ và các hình thức ghi nhận công lao về khoa học và công nghệ của tổ chức cá nhân; 7. Tổ chức, quản lý công tác thẩm định khoa học và công nghệ; 8. Tổ chức chỉ đạo công tác thống kê, thông tin khoa học và công nghệ; 9. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về khoa học và công nghệ; 10.
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về khoa học và công nghệ; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong hoạt động khoa học và công nghệ; xử lý các vi phạm pháp luật về khoa học và công nghệ.2 Hệ thống cơ quan quản lý khoa học và công nghệ Bộ KH&CN là cơ quan đại diện Chính phủ quản lý nhà nước về KH&CN. Chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nước về KH&CN được cụ thể hóa trong luật KH&CN và tại Nghị định Chính phủ 15/NĐ-CP/2003. 25 Ởû các địa phương có các sở KH&CN quản lý nhà nước trên địa bàn và tham mưu cho địa phương về khoa học và công nghệ. Trung tâm Khoa Học Tự Nghiên Và Công Nghệ Quốc Gia là đơn vị quản lý nghiên cứu triển khai và quản lý hệ thống nghiên cứu chuyên ngành.
Trung tâm Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Quốc Gia là cơ quan quản lý hệ thống nghiên cứu chuyên ngành xã hội và nhân văn. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan đại diện Chính phủ quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN tại các cơ quan giáo dục và đào tạo. Các Vụ KH&CN thuộc các bộ là đơn vị quản lý hoạt động KH&CN thuộc phạm vi bộ ngành. Ngoài ra, hệ thống các trường, viện thuộc các tổng công ty, tập đoàn, … 1.3 Quản lý Nhà nước các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ Như đã đề cập, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm 4 loại hình hoạt động chính sau đây: - Nghiên cứu –triển khai - Chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ, đào tạo, truyền bá - Phát triển công nghệ - Dịch vụ KH&CN Cũng có các hình thức phân chia khác, ví dụ như xếp chuyển giao công nghệ thuộc dịch vụ KH&CN, hoặc chỉ có ba nội dung, không có các hoạt động đào tạo.
Ngoài ra, còn phải kể đến : - Các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật cấp Trung ương và tỉnh ; - Việc tổ chức đăng ký các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ - Các loại hình giao dịch khoa học và công nghệ (ngân hàng ý tưởng, sàn giao dịch, chợ công nghệ, …) Mỗi loại hình hoạt động đều có một quy trình thực hiện riêng biệt. Theo Đào Minh Đức, mỗi bước hoặc công đoạn trong một quy trình đều có thể tạo 26 ra sản phẩm R&D chứ không phải chỉ là các kết quả thu được ở cuối quy trình và phương pháp tốt nhất để lượng hóa các kết quả đó là xem xem mỗi ý tuởng mới, tri thức mới, sản phẩm mới, phương pháp mới … đó có thỏa điều kiện bảo hộ của một đối tượng sở hữu trí tuệ nào hay không ? Nếu có, có thể xúc tiến ngay việc đăng ký hoặc thực hiện các hành vi bảo hộ phù hợp để làm cơ sở xác lập quyền sở hữu tại thời điểm mà tài sản trí tuệ đó được bắt đầu hình thành.