MỞ ĐẦU Nguồn lợi động vật nói chung và cá nói riêng ở nƣớc ta rất phong phú - thành phần loài động vật cũng nhƣ thành phần loài cá khá đa dạng. Trong đó hệ thống nuôi thuỷ sản nƣớc ngọt đã và đang phát triển mạnh cả về diện tích nuôi, đối tƣợng nuôi, hình thức nuôi. Theo thống kê của Tổng cục Thủy Sản năm 2016, diện tích nuôi trồng thủy sản nƣớc ngọt năm 2015 của Việt Nam khoảng 450 nghìn ha, sản lƣợng khoảng 2.413 nghìn tấn, chiếm 36,79% tổng sản lƣợng thủy sản. Các đối tƣợng nuôi truyền thống lâu nay nhƣ cá mè, cá trôi, cá trắm, cá chép vẫn đƣợc duy trì và thả nuôi với nhiều hình thức nhƣ: nuôi chuyên, xen ghép, lồng bè.
Do đƣợc thị trƣờng ƣa chuộng, mang lại hiệu quả kinh tế cao, chất lƣợng thịt thơm ngon, chi phí thấp, nên cá trắm vẫn là đối tƣợng đƣợc các hộ chọn nuôi thả chính trong ao, lồng. Cá trắm không chỉ là món ăn quen thuộc đƣợc nhiều ngƣời ƣa thích mà nó còn là nguồn thực phẩm toàn diện và giàu đạm cần thiết cho sự phát triển trí tuệ và thể chất của con ngƣời. Có 2 loài cá trắm đƣợc nuôi phổ biến ở nƣớc ta là cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella) và cá trắm đen (Mylopharyngodon piceus). Chúng đều là những loài cá nƣớc ngọt truyền thống của nƣớc ta, đặc biệt là ở các tỉnh thành miền Bắc.
Đây là những loài có tốc độ lớn nhanh, chất lƣợng thịt thơm ngon, hàm lƣợng dinh dƣỡng cao, tốt cho sức khỏe con ngƣời nên đƣợc rất nhiều ngƣời dân ƣa chuộng. Chính vì vậy việc nuôi thả và tiêu thụ những loài cá này ngày càng phát triển giúp ngƣời dân đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, việc biến đổi khí hậu, môi trƣờng nuôi bị ô nhiễm trầm trọng, khiến các bệnh trên cá trắm ngày càng nhiều và khó kiểm soát. Một trong những loại bệnh gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của cá là bệnh đốm đỏ do vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây ra.
Thông thƣờng cá phát bệnh khi nhiệt độ nƣớc ở khoảng từ 25–32oC, xuất hiện vào cuối xuân đầu hè (từ tháng 3 đến tháng 5) và mùa thu (từ tháng 8 đến tháng 10). Ngoài ra còn có một số loại bệnh khác nhƣ bệnh thối mang do vi khuẩn 1 dạng sợi Myxococcus picicolas gây ra, bệnh lồi mắt do vi khuẩn Steptococcus, bệnh đen mình do vi khuẩn Aeromonas spp. Đây đều là những bệnh gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến việc nuôi cũng nhƣ sản lƣợng cá ở Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Hiện nay vẫn chƣa có biện pháp để loại bỏ hoàn toàn những loại vi khuẩn gây bệnh này.
Trên thế gới cũng nhƣ ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến bệnh do vi khuẩn gây ra trên cá trắm. Nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc đã cho thấy một số loài Pseudomonas sp và Aeromonas sp là tác nhân gây bệnh đốm đỏ ở cá trắm cỏ, trắm đen; Rodger (1998), Stirling Scottland đã phân lập đƣợc A.hydrophila trong một số tổ chức của cá trắm cỏ bình thƣờng; năm 1973–1974, công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Thành đã xác định tác nhân gây bệnh đốm đỏ ở cá trắm cỏ là vi khuẩn Aeromonas punctata hay đến năm 1992, Bùi Quang Tề và các cộng sự đã phân lập đƣợc hai nhóm vi khuẩn trên cá bệnh là A. Có thể thấy đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến việc phân lập và xác định loài vi khuẩn gây bệnh trên cá trắm nhƣng không có nhiều nghiên cứu về đặc điểm cũng nhƣ sự ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng đến khả năng sinh trƣởng của chủng vi khuẩn gây bệnh. Do đó tôi đã tiến hành đề tài: “Phân lập và nghiên cứu đặc điểm của vi khuẩn gây bệnh đốm đỏ trên cá trắm.” Yêu cầu - Phân lập chủng vi khuẩn có khả năng gây bệnh trên cá trắm.
- Nghiên cứu một số đặc điểm của chủng vi khuẩn gây bệnh đã phân lập đƣợc. - Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của chủng vi khuẩn gây bệnh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cá trắm 1.
Sơ lược về cá trắm cỏ Phân loại khoa học Giới: Animalia Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Cypriniformes Họ: Cyprinidae Chi: Ctenopharyngodon Loài: C. idells Danh pháp hai phần: Ctenopharyngodon idella (Valenciennes, 1844) Đặc điểm Cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella) là một loài thuộc họ cá chép (Cyprinidae), loài duy nhất của chi Ctenopharyngodon. Cá lớn có thể dài tới 1,5 mét, nặng 45 kg và sống tới 21 năm. Hình ảnh cá trắm cỏ (Nguồn: Phòng kỹ thuật An Bình, 2019) 3 Thân cá trắm cỏ thon dài và có dạng hình trụ, bụng tròn, thót lại ở gần đuôi; chiều dài lớn gấp 3,6-4,3 lần chiều cao của thân và gấp 3,8-4,4 lần chiều dài đầu; chiều dài của đuôi lớn hơn chiều rộng của nó; đầu trung bình; miệng rộng và có dạng hình cung; hàm trên dài rộng hơn hàm dƣới, phần cuối của nó có thể sát xuống phía dƣới mắt; không có xúc tu; các nếp mang ngắn và thƣa thớt; vảy lớn và có dạng hình tròn.
Hậu môn gần với vây hậu môn; màu cơ thể: phần hông màu vàng lục nhạt, phần lƣng màu nâu sẫm; bụng màu trắng xám nhạt. Phân bố Cá trắm cỏ là một loài cá nƣớc ngọt bản địa Trung Quốc, phân bố rộng từ lƣu vực sông Pearl ở miền nam Trung Quốc, sông Hắc Long Giang ở miền bắc Trung Quốc. Ngày nay cá Trắm cỏ đƣợc di nhập đến hầu hết các thủy vực trên thế giới, có mặt ở hơn 40 quốc gia khác nhau. Ở Việt Nam cá Trắm cỏ phân bố chủ yếu ở khu vực sông Hồng, sông Kỳ Cung (Lạng Sơn).
Năm 1958, loài cá này đã đƣợc nhập từ Trung Quốc về Việt Nam nuôi thử nghiệm và cho sinh sản nhân tạo thành công. Sơ lược về cá trắm đen Phân loại khoa học Giới: Animalia Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Cypriniformes Họ: Cyprinidae Chi: Mylopharyngodon Loài: M. piceus Danh pháp hai phần: Mylopharyngodon piceus (J.Richardson, 1846) Đặc điểm Cá trắm đen có tên khoa học là Mylopharyngodon piceus, loài cá này 4 thuộc họ cá chép. Cá trắm đen đƣợc tìm thấy và miêu tả bởi Richardson vào năm 1846.
Cá trắm đen là loài cá nƣớc ngọt có kích thƣớc lớn. Trung bình một con cá trắm đen khi trƣởng thành có chiều dài từ 60–120cm, cân nặng của chúng dao động từ 3–10kg. Có những trƣờng hợp cá trắm đen khổng lồ có cân nặng lên đến 35kg và chiều dài lên đến 1,8m. Hình ảnh cá trắm đen (Nguồn: Khuyến nông Hà Nội, 2017) Cá trắm đen có thân thuôn dài và rất tròn.
Phần đầu của cá trắm đen thuôn và cân đối so với tỷ lệ cơ thể của chúng. Miệng của cá khá rộng, hàm trên dài hơn so với hàm dƣới. Mõm cá hơi nhọn, ngắn và hơi hƣớng về phía trƣớc. Lỗ mũi cá rất lớn và đƣợc bố trí ở gần mắt.
Cá có rất nhiều răng nhỏ và tạo thành một hàm lƣợc. Mắt cá trắm đen có tỷ lệ nhỏ hơn so với kích thƣớc của phần đầu, mắt đen nhánh và đƣợc bố trí đều ở 2 bên đầu. Phần lƣng của cá trắm đen thuôn thẳng xuống, trên lƣng có 1 chiếc vây lớn có khoảng 7–9 tia, không quá cứng. Vây ngực mềm và nằm cân đối, vây bụng song song với phần vây lƣng.
Vây hậu môn nằm gần ở khu vực đuôi của cá. Vây đuôi lớn và hơi chia thùy ở giữa. Cá trắm đen có một lớp vảy tròn, cứng, sắp xếp rất đều. Phần lƣng cá có màu đen đậm, càng dần về phía bụng màu sắc sẽ càng nhạt đi.
Vây có màu đen đậm, đậm hơn cả phần màu ở trên lƣng của cá. 5 Phân bố Môi trƣờng sống yêu thích nhất của loài cá trắm đen là khu vực bùn đất nơi có độ sâu khoảng 2m. Cá trắm đen chuyên sinh sống ở những vùng ao, hồ, sông, suối – môi trƣờng nƣớc ngọt. Tại Việt Nam, cá sống chủ yếu ở vùng hạ lƣu và thƣờng đẻ ở vùng trung lƣu các sông lớn nhƣ sông Hồng, sông Thái bình, sông Mã, sông Lam; cá có nhiều ở vùng đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ, phân bổ chủ yếu ở một số tỉnh thành nhƣ: Thái Bình, Hòa Bình, Nam Định, Nghệ An.
Giới hạn thấp nhất của loài cá này là sông Lam - Nghệ An (Nguyễn Thái Tự, 1983). Trên thế giới: Cá trắm đen đƣợc phân bố ở những lƣu vực Thái Bình Dƣơng thuộc Đông Nam Á từ khu vực sông Amua tới phía đông Liên Xô và miền bắc Việt Nam nhƣng chủ yếu phân bố ở Trung Quốc (Nico và cs, 2005). Vai trò và ý nghĩa kinh tế của cá trắm Vai trò Cá trắm là loại thức ăn bổ dƣỡng, ngon, quý, rất có giá trị dinh dƣỡng. Trong 100g ăn đƣợc của cá trắm nói chung có: 91Kcal, 17g protein, 2,6g lipit, 57mg canxi, 145mg phốt pho, 0,1mg sắt.
Cá trắm cỏ là loại cá nƣớc ngọt, giàu dinh dƣỡng, thịt mềm, là thực phẩm rất tốt cho sức khỏe. Theo Đông y, cá trắm cỏ vị ngọt tính ôn, công năng bổ tỳ ấm vị, bổ khí huyết. Thích hợp với các chứng biếng ăn, gầy yếu, mệt mỏi, đuối sức,. Cá trắm cỏ cung cấp các dƣỡng chất nhƣ: đạm, chất béo, canxi, photpho, sắt, các vitamin B1, B2, PP.
Cá trắm đen là loài cá có giá trị kinh tế cao, thịt cá thơm ngon, là loại thức ăn bổ dƣỡng đƣợc ngƣời dân Việt Nam cũng nhƣ ở Trung Quốc ƣa chuộng. Trong y học, thịt cá trắm đen có tính bình, vị ngọt, có rất nhiều tác dụng nhƣ chữa đau dạ dày mãn tính, phù nề, viêm gan, thận, tê thấp, sƣng đau, nâng cao sức đề kháng, tăng cƣờng miễn dịch, ngƣời Trung Quốc thƣờng sử dụng cá Trắm đen nhƣ một vị thuốc quý (Nico và cs, 2005). Mật cá trắm đen cũng là 6 dƣợc liệu quý chữa mờ mắt, mắt đỏ kéo màng, đau họng, tắc họng (sách Cây thuốc, bài thuốc và biệt dƣợc, nhà xuất bản Y học). Thành phần thịt cá trắm đen chứa 19,5% Protein, 5,2% Lipid, nhiều Canxi, Phospho, sắt, vitamin B1, B2, PP.
có chất lƣợng dinh dƣỡng cao hơn nhiều loài cá có giá trị kinh tế nhƣ cá chép (16% Protein, 3,6% Lipid), cá quả (18,2% protein, 2,7% Lipid) hay ngay cả trứng gà (10,9 % Protein, 0,5% Lipid), thịt gà (12,3% Protein). cá trắm đen là loại thức ăn tốt cho ngƣời già, trẻ em, phụ nữ có thai và ngƣời bị bệnh tim mạch (Từ Giấy và Bùi Thị Nhu Thuận, 1976); với những giá trị trên, giá cá trắm đen thịt trên thị trƣờng cao hơn các loại cá nƣớc ngọt khác. Ý nghĩa kinh tế Cá trắm cỏ đƣợc biết đến ở hơn 40 quốc gia khác nhau, đôi khi cá đƣợc gọi là White amur (cá trắm trắng).