Tổng quan nghiên cứu

Khai thác khoáng sản là ngành công nghiệp đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên hoạt động này tạo ra những áp lực môi trường nặng nề đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người. Trên phạm vi toàn cầu, theo các báo cáo môi trường quốc tế, có tới 4 trong số 10 địa điểm ô nhiễm nghiêm trọng nhất thế giới bắt nguồn từ các khu vực mỏ khai thác và luyện kim, nơi hàm lượng chì trong không khí và đất vượt quy chuẩn cho phép hơn 10 lần, kéo theo tỷ lệ ung thư của cư dân bản địa cao gấp 1,5 lần so với các vùng lân cận. Tại Việt Nam, hoạt động khai khoáng phân bố tại hơn 5.000 điểm mỏ với 60 loại khoáng sản. Riêng tỉnh Thái Nguyên sở hữu khoảng 177 điểm quặng với 45 mỏ đang hoạt động; một cuộc điều tra của cơ quan quản lý tài nguyên môi trường địa phương ghi nhận 31 cơ sở gây ô nhiễm môi trường và 17 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực trạng tại mỏ đa kim Núi Pháo thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Đây là mỏ sở hữu trữ lượng vonfram, fluorit, bismut và đồng lên tới 52,5 triệu tấn quặng, hoạt động trên diện tích khai thác 90 ha và vùng thăm dò mở rộng 558 ha. Hoạt động chế biến tuyển nổi khoáng sản làm phát sinh chất thải nguy hại, nước thải chứa hóa chất độc hại và kim loại nặng đe dọa trực tiếp đời sống của khoảng 5.879 cư dân xã Hà Thượng.

Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm hai nội dung chính: Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường đất và nước xung quanh khu vực khai thác mỏ Núi Pháo trong năm 2017; Phân tích thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về phòng chống ô nhiễm môi trường của người dân cùng các yếu tố liên quan tại xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong y học dự phòng, cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học và môi trường phục vụ hoạch định chính sách bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết dịch tễ học môi trường và mô hình thay đổi hành vi sức khỏe KAP (Knowledge - Attitude - Practice). Theo Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13, môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đến sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. Khái niệm sức khỏe môi trường của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khẳng định trạng thái sức khỏe con người chịu tác động trực tiếp từ các yếu tố xung quanh, trong đó khoảng 25% tổng gánh nặng bệnh tật và 80% các bệnh truyền nhiễm đường tiêu hóa có liên quan mật thiết đến nguồn nước và môi trường sống bị suy thoái.

Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi: Ô nhiễm kim loại nặng trong đất nông nghiệp; Sự biến đổi tính chất lý hóa của nguồn nước ăn uống và nước mặt; Mức độ tích lũy sinh học của độc chất như Asen (As), Chì (Pb), Cadimi (Cd), Thủy ngân (Hg), Xianua; Mối quan hệ tương tác giữa điều kiện kinh tế - xã hội với hành vi vệ sinh phòng bệnh của người dân nông thôn miền núi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và định tính, triển khai từ năm 2017 đến tháng 5 năm 2018 tại xã Hà Thượng, huyện Đại Từ.

Nguồn dữ liệu môi trường được thu thập thông qua kỹ thuật lấy mẫu và phân tích hóa nghiệm trong phòng thí nghiệm đối với 3 nhóm môi trường: đất nông nghiệp, nước ăn uống sinh hoạt và nước mặt, đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia (QCVN 03:2015/BTNMT về giới hạn kim loại nặng trong đất, QCVN 08-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước mặt, QCVN 01:2009/BYT về chất lượng nước ăn uống).

Nguồn dữ liệu xã hội học được thu thập trên cỡ mẫu điều tra gồm 420 đại diện hộ gia đình sinh sống quanh khu vực mỏ. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo khoảng cách địa lý (dưới 500m, từ 500m đến 1.000m, trên 1.000m tính từ ranh giới mỏ) được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các mức độ phơi nhiễm khác nhau. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung và 8 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ y tế, chính quyền địa phương. Toàn bộ số liệu định lượng được làm sạch, nhập liệu bằng phần mềm Epidata và phân tích thống kê y học bằng phần mềm SPSS, áp dụng kiểm định Chi-square với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05 để tìm mối liên quan giữa học vấn, kinh tế với hành vi phòng ngừa ô nhiễm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích mẫu môi trường và khảo sát xã hội học mang lại các phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, chất lượng nước mặt và nước thải quanh khu vực mỏ Núi Pháo bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi hóa chất tuyển khoáng và kim loại nặng. Tại suối Cát, nguồn tiếp nhận nước thải chính của mỏ, cơ quan chức năng phát hiện nồng độ tổng Xianua vượt giới hạn cho phép từ 30 lần đến 217 lần so với quy chuẩn nước mặt. Nước xuất lộ tự nhiên tại xóm 6 xã Hà Thượng làm ngập úng đất canh tác có hàm lượng sắt và mangan vượt tiêu chuẩn từ 2 lần đến 5 lần.

Thứ hai, hàm lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp và nước sinh hoạt ghi nhận mức độ tích tụ đáng báo động. Tương tự như các vùng khai thác khoáng sản phụ cận, nồng độ Asen trong đất vượt giới hạn từ 1,37 lần đến 6 lần; Cadimi vượt từ 1,6 lần đến 20,4 lần; Chì vượt từ 3,2 lần đến 18,2 lần so với QCVN 03:2015/BTNMT. Số liệu biểu diễn theo khoảng cách địa lý chứng minh nồng độ kim loại nặng giảm dần theo quy luật hàm số mũ khi khoảng cách tính từ tâm mỏ tăng từ 500m lên trên 2.000m.

Thứ ba, trình độ kiến thức, thái độ và thực hành của người dân địa phương về phòng chống ô nhiễm môi trường còn rất thấp. Tỷ lệ người dân đạt kiến thức đúng chỉ chiếm 2,22% tại xã Hà Thượng. Mặc dù có tới 98% người dân nhận thức được tầm quan trọng của nước sạch, tỷ lệ có thái độ tích cực toàn diện về quản lý nguồn nước và chất thải chỉ đạt 24,3% đến 34,4%. Tỷ lệ thực hành các biện pháp bảo vệ sức khỏe đạt chuẩn chỉ ở mức 12,5% đến 23,4%, hầu như không có hộ gia đình nào chủ động gửi mẫu nước đi xét nghiệm định kỳ.

Thứ tư, nghiên cứu xác định mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa điều kiện kinh tế, trình độ học vấn với thực hành vệ sinh môi trường (p < 0,05). Nhóm hộ gia đình đủ ăn có tỷ lệ thực hành tốt đạt 14,8%, trong khi nhóm hộ nghèo chỉ đạt 1,4%; tỷ lệ thực hành kém ở nhóm hộ nghèo lên tới 61,9%.

Bảng tổng hợp các chỉ số ô nhiễm và hành vi tại khu vực nghiên cứu:
+------------------------------------+--------------------------+-----------------------+
| Chỉ số quan trắc / Khảo sát        | Giá trị ghi nhận thực tế | Ngưỡng quy chuẩn/so sánh|
+------------------------------------+--------------------------+-----------------------+
| Nồng độ Xianua tại suối Cát        | Vượt 30 - 217 lần        | QCVN 08-MT:2015/BTNMT |
| Nồng độ Sắt, Mangan nước xóm 6     | Vượt 2 - 5 lần           | QCVN 01:2009/BYT      |
| Tỷ lệ người dân có kiến thức đạt   | 2,22%                    | Trung bình vùng 22,3% |
| Tỷ lệ hộ nghèo có thực hành tốt    | 1,40%                    | Hộ đủ ăn đạt 14,8%    |
+------------------------------------+--------------------------+-----------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm nước và đất bắt nguồn từ việc doanh nghiệp vận hành mỏ gia tăng sử dụng hóa chất tuyển khoáng ngoài danh mục phê duyệt ban đầu, với số lượng hóa chất tăng thêm 13 loại so với báo cáo đánh giá tác động môi trường năm 2008. Khối lượng Natri hydroxit sử dụng vượt 10 lần, Đồng sunfat vượt 1,3 lần và chất tạo đông tụ Quebracho D2 vượt 1,6 lần định mức. Hiện tượng rò rỉ nước từ hồ chứa quặng đuôi và dòng thải axit mỏ đã làm phát tán kim loại nặng vào mạch nước ngầm và đất canh tác lúa.

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu tại mỏ kẽm chì Làng Hích, mỏ than Phấn Mễ và mỏ sắt Trại Cau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, kết quả nghiên cứu này tương đồng về quy luật tích lũy kim loại nặng độc hại như Asen, Chì, Cadimi. Trên bình diện quốc tế, bức tranh môi trường tại Núi Pháo phản ánh thực trạng tương tự như vùng mỏ Panasqueira tại Bồ Đào Nha hay vùng mỏ Dabaoshan tại Trung Quốc, nơi nồng độ kim loại nặng trong nông sản và nguồn nước sinh hoạt vượt ngưỡng an toàn thực phẩm, tạo ra nguy cơ bệnh tật mãn tính kéo dài.

Sự hạn chế về KAP của người dân bắt nguồn từ công tác truyền thông y tế cơ sở còn mỏng, rào cản kinh tế khó khăn và tập quán sinh hoạt lạc hậu của đồng bào nông thôn miền núi, dẫn đến sự bất lực trong việc tự bảo vệ nguồn nước ăn uống.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm mỏ Núi Pháo đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Tăng cường kiểm soát và xử lý nguồn thải công nghiệp: Yêu cầu Công ty TNHH Khai thác Chế biến Khoáng sản Núi Pháo tuân thủ nghiêm ngặt quy trình xử lý nước thải đạt QCVN 40:2011/BTNMT trước khi xả ra suối Cát. Lắp đặt trạm quan trắc nước thải tự động, truyền dữ liệu liên tục 24/7 về Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên, mục tiêu cắt giảm 100% các sự cố tràn xả hóa chất và kiểm soát nồng độ Xianua dưới ngưỡng cho phép trong vòng 6 tháng.

  2. Đầu tư hạ tầng cấp nước sạch sinh hoạt tập trung: Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ và Ủy ban nhân dân xã Hà Thượng phối hợp cùng doanh nghiệp xây dựng hệ thống cấp nước máy hợp vệ sinh cho toàn bộ 5.879 người dân xã Hà Thượng. Đặt mục tiêu đạt tỷ lệ 95% hộ gia đình sử dụng nước sạch đạt chuẩn QCVN 01:2009/BYT trong vòng 18 tháng, xóa bỏ hoàn toàn thói quen dùng nước giếng khoan và nước mặt chưa qua xử lý gần khu vực chứa quặng đuôi.

  3. Đẩy mạnh chương trình can thiệp giáo dục truyền thông sức khỏe: Trung tâm Y tế huyện Đại Từ và Trạm Y tế xã Hà Thượng xây dựng các mô hình truyền thông thay đổi hành vi trực quan, tập trung vào đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ nghèo. Phấn đấu nâng tỷ lệ người dân có kiến thức đúng lên trên 60% và thực hành vệ sinh môi trường đạt trên 50% trong vòng 12 tháng.

  4. Thiết lập hệ thống giám sát dịch tễ học và phục hồi môi trường đất: Sở Y tế Thái Nguyên chủ trì tổ chức khám sàng lọc bệnh nghề nghiệp, xét nghiệm hàm lượng kim loại nặng sinh học định kỳ cho cư dân xóm 6 và các xóm lân cận; Sở Tài nguyên và Môi trường triển khai các biện pháp hoàn nguyên mỏ, cô lập vùng nước ngập úng và xử lý đất nông nghiệp nhiễm độc bằng phương pháp sinh học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị khoa học và ứng dụng sâu rộng cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về Y tế và Môi trường: Cung cấp nguồn số liệu tin cậy cho Sở Y tế, Chi cục Bảo vệ Môi trường, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC) tỉnh Thái Nguyên trong việc hoạch định chính sách cấp phép, thanh tra xả thải mỏ và xây dựng bản đồ cảnh báo nguy cơ sức khỏe môi trường.

  2. Cán bộ y tế dự phòng và nhân viên y tế công cộng tuyến cơ sở: Cung cấp bộ công cụ điều tra KAP chuẩn hóa và các bằng chứng thực địa giúp thiết kế chiến dịch can thiệp hành vi vệ sinh phòng dịch sát hợp với tâm lý, văn hóa của cư dân vùng mỏ.

  3. Doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản: Giúp các bộ phận Quản lý An toàn - Sức khỏe - Môi trường (HSE) tại các tổ hợp công nghiệp mỏ như Núi Pháo đánh giá lại quy trình tuyển khoáng, lượng hóa chất sử dụng và thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng dân cư địa phương.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Sức khỏe, Khoa học Môi trường: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa quan trắc hóa nghiệm độc học môi trường với điều tra dịch tễ học xã hội học.

Câu hỏi thường gặp

Mức độ ô nhiễm nguồn nước mặt tại khu vực suối Cát quanh mỏ Núi Pháo nghiêm trọng như thế nào?

Số liệu quan trắc định kỳ của cơ quan quản lý nhà nước ghi nhận hàm lượng chất độc Xianua trong nước mặt suối Cát vượt quy chuẩn cho phép từ 30 đến 217 lần. Ngoài ra, nước xuất lộ tự nhiên tại xóm 6 xã Hà Thượng có nồng độ sắt và mangan vượt tiêu chuẩn từ 2 đến 5 lần, gây ngập úng và ô nhiễm đất sản xuất.

Tại sao tỷ lệ kiến thức đúng về ô nhiễm môi trường của người dân xã Hà Thượng chỉ đạt 2,22%?

Nguyên nhân chủ yếu do công tác truyền thông chuyên biệt về độc chất mỏ chưa được triển khai sâu rộng; cán bộ y tế cơ sở thiếu tài liệu chuyên môn về ô nhiễm kim loại nặng; đồng thời đời sống kinh tế người dân còn khó khăn, hạn chế trong việc tiếp cận các kênh thông tin khoa học kỹ thuật hiện đại.

Yếu tố nào có mối tương quan mạnh nhất đến thực hành phòng chống ô nhiễm môi trường của người dân?

Nghiên cứu khẳng định yếu tố điều kiện kinh tế hộ gia đình và trình độ học vấn có mối liên quan thuận chặt chẽ nhất với thực hành phòng bệnh (p < 0,05). Hộ gia đình nghèo có tỷ lệ thực hành kém lên tới 61,9%, do thiếu kinh phí đầu tư bể lọc nước và trang thiết bị vệ sinh đạt chuẩn.

Luận văn đã sử dụng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia nào để đánh giá ô nhiễm đất và nước?

Luận văn căn cứ vào 3 quy chuẩn pháp lý then chốt: QCVN 03:2015/BTNMT quy định giới hạn kim loại nặng (As, Cd, Pb, Cu, Zn) trong đất nông nghiệp; QCVN 08-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước mặt; và QCVN 01:2009/BYT của Bộ Y tế về tiêu chuẩn chất lượng nước ăn uống sinh hoạt.

Doanh nghiệp khai thác mỏ Núi Pháo đã có những sai phạm gì về mặt sử dụng hóa chất theo báo cáo?

Doanh nghiệp đã gia tăng sử dụng thêm 13 loại hóa chất ngoài báo cáo đánh giá tác động môi trường năm 2008 được duyệt. Trong đó, khối lượng Natri hydroxit sử dụng vượt 10 lần, Đồng sunfat vượt 1,3 lần và chất tuyển nổi Quebracho D2 vượt 1,6 lần so với định mức cho phép.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định rõ thực trạng ô nhiễm kim loại nặng và hóa chất tuyển khoáng (Xianua vượt 30 - 217 lần, Sắt và Mangan vượt 2 - 5 lần, Asen, Chì, Cadimi trong đất vượt nhiều lần quy chuẩn) tại khu vực mỏ Núi Pháo.
  • Khảo sát thực địa chỉ ra lỗ hổng lớn về nhận thức cộng đồng với tỷ lệ kiến thức đạt chuẩn của người dân chỉ ở mức 2,22% và thực hành tốt dao động thấp từ 12,5% đến 23,4%.
  • Chứng minh thành công mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa điều kiện kinh tế, trình độ học vấn với mức độ thực hành vệ sinh phòng chống ô nhiễm (p < 0,05).
  • Đóng góp bộ cơ sở dữ liệu dịch tễ học môi trường hoàn chỉnh, kết nối trực tiếp giữa thông số hóa nghiệm vật lý với hành vi y tế công cộng tại tỉnh Thái Nguyên.
  • Đề xuất lộ trình can thiệp 4 bước từ kiểm soát xả thải mỏ, lắp đặt nước sạch tập trung đến nâng cao năng lực y tế dự phòng giai đoạn 2018 - 2020.

Hãy tiếp tục khai thác các phát hiện thực chứng từ luận văn này để xây dựng những can thiệp y tế công cộng hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư khu vực mỏ.