mở đầu cho sự xuất hiện của CAM. CAD bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm 1960 với công nghệ thiết kế cao nhờ có sự trợ giúp của máy tính. Với sự xuất hiện của vi mạch vào đầu những năm 1970, máy tính bắt đầu được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực của sản xuất. Khái niệm về CIM đã được tiến sĩ Joseph Harrington đưa ra vào những năm 1973.
Mặc dù khái niệm của ông về CIM chưa được hoàn chỉnh, ngày nay danh từ CIM đã trở nên rất quen thuộc trong cách nói về sản xuất. CIM đã trở thành chiến lược nền tảng của tích hợp các thiết bị và hệ thống sản xuất thông qua các máy tính hoặc các bộ vi xử lý tự động. Mục đích hiện thực lâu dài của CIM có thể đạt được thông qua việc lập kế hoạch phát triển ở tầm vĩ mô của các công ty. Sự tích hợp có hiệu quả đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về tất cả các quá trình công nghệ và hiểu biết sâu sắc về các thiết bị sản xuất của công ty.
Để cho việc ứng dụng CIM có hiệu quả thì việc tích hợp các công nghệ tiên tiến AMT phải được thực hiện thông qua các máy tính. Máy tính chỉ hoạt động như các tọa độ phụ của công nghệ. Tuy nhiên, không có máy tính thì việc tích hợp sẽ không có hiệu quả. Bộ quốc phòng Hòa kỳ đóng một vai trò quan trọng trong việc mở đường cho công nghệ CIM.
Năm 1975 họ bắt đầu lập chương trình sản xuất có trợ giúp của máy tính của lực lượng không quân AFCAM ( Air Force Computer Aided Manufacturing). Chương trình này cho phép tiếp cận tốt hơn đối với công nghệ sản xuất. Nhờ kết quả đó mà sản xuất có trợ giúp của máy tính tích hợp ICAM (Intergrated Computer Aided Manufacturing) đã được xây dựng vào năm 1976 tại phòng thí nghiệm vật liệu của không quân Hoa Kỳ dưới sự chỉ đạo của Ủy ban kỹ thuật và Viện hàn lâm quốc gia NAEC (National Academy of Enegineering Comittee) về sản xuất có sự trợ giúp của máy tính CAM. Sau khi bỏ chương trình ICAM vào năm 1985, không quân Hoa kỳ bắt đầu xây dựng chương trình CIM.
Công ty Các hệ thống tự động và máy tính CASA của hội những nhà sản xuất SME đã được thành lập vào năm 1975 để tập trung kiến thức trong lĩnh vực máy tính và tự động hóa cho sự phát triển của sản xuất. Là một hội khoa học và đào tạo, CASA/SME đã truyền bá khái niệm về CIM với đông đảo quần chúng và đã xây dựng vòng tròn nhà máy CIM nhằm cung cấp cho công nghiệp sản xuất một cái nhìn đúng đắn về CIM. Hội đồng kỹ thuật của CASA/SME đã thống nhất 5 vấn đề cơ bản của vòng tròn CIM như sau: Quản lý sản xuất và quản lý nguồn nhân lực, sản xuất và quá trình, lập kế hoạch sản xuất và kiểm tra, nhà máy tự động hóa và quản lý nguồn thông tin. Vòng tròn CIM mô tả khía cạnh tích hợp của CIM đối với quan điểm về quản lý sản xuất.
CIM có những ưu điểm sau đây: http://www.vn 19 Đồ án tốt nghiệp Cơ điện tử 3 - K47 - Tính linh hoạt của sản phẩm, của sản lượng và của vật liệu. - Nâng cao năng suất và chất lượng của gia công. - Hoàn thiện giao diện giữa thiết kế và sản xuất. - Giảm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
- Thiết kế có năng suất và độ chính xác cao. - Tiêu chuẩn hóa cao và sử dụng vật liệu hợp lý. - Tiết kiệm thời gian và mặt bằng sản xuất. - Tạo cơ sở dữ liệu chung để loại trừ các bộ phận chứa dữ liệu độc lập.
- Loại trừ các công việc lặp lại không cần thiết. - Giảm thời gian giám sát sản xuất và số cán bộ thực hiện công việc này. - Có ưu điểm cạnh tranh đối với các đối thủ cạnh tranh. Khái niệm về CIM được đưa ra trong thời gian đầu có vẻ như không đạt được ý tưởng thực tế, tuy nhiên với công nghệ ngày nay thì CIM đạt được mục đích không mấy khó khăn.
Tương lai của kỹ thuật là ứng dụng CIM với tác động của trí tuệ. Sản xuất trí tuệ là con đường của tương lai. Vì vây, công nghệ sản xuất và các hệ thống CIM sẽ bao gồm cả trí tuệ để giúp các nhà máy chế tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ. Hướng phát triển của CIM.
Sản xuất ảo là khi các đơn vị sản xuất được liên kết với nhau trên phạm vi toàn cầu để giải quyết tất cả các vấn đề từ sản xuất đến phân phối sản phẩm. Ngày ngay đã có nhiều sự liên kết toàn cầu trong rất nhiều các lĩnh vực công nghiệp. Do đó, nhà máy ảo đã được định nghĩa như một mạng liên kết toàn cầu và chỉ có nhà máy ảo mới đảm bảo được sự cạnh tranh và thị trường toàn cầu. Từ khái niệm nhà máy ảo người ta đưa ra khái niệm về CIM ảo.
Nghiên cứu về CIM ảo và ứng dụng nó trong phạm vi toàn cầu đã trở nên bức thiết. Ứng dụng CIM ảo là một bước tiến quan trọng trong sản xuất tương lai đã được Lin (năm 1977) khởi xướng. Tuy nhiên, vào thời điểm này cũng có rất nhiều công trình về nhà máy ảo của Makatsoris và Besant được công bố. CIM ảo có thể thích ứng với sản xuất và phân bố toàn cầu.
Trung tâm nghiên cứu công nghệ sản xuất tiên tiến của trường Đại học tổng hợp nam Australia đã đưa ra khái niệm về vòng tròn CIM ảo. Vòng tròn CIM ảo này mô tả các điều kiện thị trường toàn cầu.vn 20 Đồ án tốt nghiệp Cơ điện tử 3 - K47 Hình 1. Vòng tròn CIM ảo http://www.vn 21 Đồ án tốt nghiệp Cơ điện tử 3 - K47 Chú thích các khái niệm: Global Competition & Environmental Concerns (Sự cạnh tranh toàn cầu và những quan tâm tới vấn đề môi trường) Mass Customisation (Số lượng khách hàng) Shorter Product Life Cycles (Chu kì vòng đời ngắn của sản phẩm) Innovation & Faster Respone (Sự đổi mới và đáp ứng nhanh) Global Manufacturing Systems (Hệ thống sản xuất toàn cầu) Strategic Planning & Control (Hoạch định chiến lược và điều khiển) Virtual Eterprise (Các nhà máy ảo) Interconnected ATMS (Liên kết qua lại giữa các công nghệ tiên tiến) Dedicated & Distributed but Interconnected Management (Phân nhỏ và nhanh nhạy nhưng phải liên kết qua lại trong quản lý) Interconnected Global & Local Functional Units (Các đơn vị sản xuất được liên kết ở từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu) Global Information & Communication Links (Sự liên kết về thông tin và giao tiếp toàn cầu) Shared Data (Chia sẻ dữ liệu) Integrated Enterprise Infrastructure (Kết cấu hạ tầng tích hợp của các nhà máy sản xuất) Khái niệm về vòng tròn CIM ảo cũng như vòng tròn CIM đã được các nhà sản xuất SME ( Society of Manufacturing Engineers) phát triển và nó được giải thích như sau ( Giải thích được bắt đầu từ vòng tròn ngoài cùng): Vòng ngoài mô tả tình trạng thế giới hiện tại, đó là cạnh tranh toàn cầu, sự quan tâm môi trường, hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, chu kỳ chế tạo sản phẩm ngắn, yêu cầu sáng tạo sản phẩm và trả lời nhanh. Vòng thứ hai mô tả các hệ thống toàn cầu, đó là các nhà máy ảo, các hệ thống sản xuất toàn cầu và những hoạch định sản xuất mang tính chiến lược.
Vòng thứ ba giải thích cách thức thực hiện, đó là sự liên kết toàn cầu về sản xuất, sự liên kết của các công nghệ tiên tiến, sự chuyên môn hóa và phân phối riêng biệt nhưng được quản lý chung. Vòng thứ tư mô tả sự cần thiết của thông tin và liên kết toàn cầu, đồng thời sự cần thiết phải phân chia dữ liệu giữa các hệ thống. Vòng trung tâm mô tả kết quả của CIM như một nhà máy tích hợp toàn cầu thông qua cấu trúc tích hợp.vn 22 Đồ án tốt nghiệp Cơ điện tử 3 - K47 Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư vào CIM và để giúp nền công nghiệp sản xuất, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra những giải pháp để ứng dụng CIM. Dưới đây là một số hướng nghiên cứu về CIM: - Hợp lý hóa CIM và chiến lược quản lý CIM.
- Nhà máy tích hợp cho CIM với gianh giới địa lý. - Mạng liên kết của CIM. - Công cụ và công nghệ tiên tiến cho việc ứng dụng CIM. - Mô hình hệ thống sản xuất.
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI (Artifical Intelligence) như Fuzzy logic, mạng notron để tích hợp trí tuệ toàn phần các hệ thống sản xuất. Chỉ tiêu “hợp lý hóa và chiến lược quản lý CIM” được nghiên cứu theo chiều hướng: Các nghiên cứu đều tập trung vào việc đảm bảo cho nhà quản lý các nguyên tắc ứng dụng CIM trong môi trường sản xuất của mình. Chỉ tiêu “nhà máy tích hợp cho CIM với gianh giới địa lý” được nghiên cứu theo cấu trúc và mô hình hóa của nhà máy tích hợp, theo hợp tác CAD/CAM toàn cầu thông qua các hệ thống phụ trợ của CIM. Chỉ tiêu “mạng liên kết của CIM” bao gồm ứng dụng mạng trên phạm vi rộng và Internet cho CIM, tăng cường thông tin bằng giữ liệu tích hợp mối quan hệ giữa khách hàng và nhà sản xuất, các dữ liệu quản lý trong các hệ thống CIM.
Chỉ tiêu “công cụ và công nghệ tiên tiến cho việc ứng dụng CIM” được nghiên cứu về robot, tự động hóa và sản xuất trí tuệ. Chỉ tiêu “mô hình hệ thống sản xuất” được nghiên cứu về tích hợp các mô hình thông tin với các mô hình chức năng của CIM, mô hình mô phỏng tích hợp của CIM và các hệ thống thiết kế của CIM. Chỉ tiêu “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo” bao gồm các hướng nghiên cứu về ứng dụng các mạng notron trong tự động hóa sản xuất, hệ thống hoạch định trí tuệ và các mô hình thích nghi của CIM. Các hướng nghiên cứu để phát triển CIM: Trong phạm vi nghiên cứu về hợp lý hóa CIM và chiến lược quản lý CIM, sự phát triển của hệ thống thông tin quản lý đã thúc đẩy việc ứng dụng hệ thống trợ giúp ra quyết định DSS trong môi trường ra quyết định theo nhóm.
Hơn nữa, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và trí thức đã tác động đến các mô hình tĩnh và lạc hậu của xí nghiệp. Vì vậy, để hợp lý hóa và tối ưu hóa đầu tư cho nhà máy ảo cần có hệ thống trợ giúp ra quyết định theo nhóm GDSS (Group Decision Support Systems ).