Chương 1 giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu ước lượng hiệu ứng nền đất trên thế giới và Việt Nam, cung cấp các thông tin cơ bản về nền đất địa phương khu vực nghiên cứu liên quan đến sự khuếch đại sóng động đất. Chương 2 đề cập đến khái niệm dao động vi địa chấn, các kỹ thuật đo, cơ sở phương pháp đánh giá đặc điểm dao động vi địa chấn và ước lượng hiệu ứng nền đất. Chương 3 nói về nguồn gốc các loại dữ liệu, sự tin cậy của nguồn số liệu và các quy trình minh giải sử dụng. Chương 4 trình bày chi tiết kết quả đánh giá các đặc điểm dao động vi địa chấn khu vực nttp.
Hà Nội trên cơ sở 834 điểm đo dao động vi địa chấn một trạm. Chương 5 trình bày chi tiết kết quả đánh giá hiệu ứng nền đất khu vực nttp. Hà Nội trên cơ sở 816 giá trị VS30 tính được theo kỹ thuật mô phỏng biểu đồ tỷ số phổ H/V bằng thuật toán di truyền. n 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU KIỆN NỀN ĐẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU Hiện tượng dễ nhận thấy trong điều tra động đất mạnh là mức độ phá hủy công trình xây dựng khác nhau.
Các công trình xây dựng trên vùng đất yếu dày thường bị phá hủy và thiệt hại nhiều hơn các vùng đất, đá cứng. Hiện tượng này gọi là HƯNĐ. Vì vậy, nghiên cứu HƯNĐ trên thế giới và Việt Nam rất được quan tâm bởi vì chúng phục vụ thiết kế công trình chịu động đất. Chương này giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu HƯNĐ trên thế giới và Việt Nam.
Nghiên cứu hiệu ứng nền đất trên thế giới Nghiên cứu HƯNĐ ra đời vào thời điểm cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2, khi đầu máy xe lửa thay thế cho sức ngựa. Ở thời điểm này đã có sự thay đổi lớn về thiết kế, xây dựng các công trình giao thông, nhà ở hay cầu cống. Các đường giao thông truyền thống chuyển từ dạng đi men theo các sườn đồi hay chân núi (với nền đất tốt) sang dạng đi thẳng xuyên qua các nền đất với mức độ phức tạp khác nhau. Về nhà ở, chuyển từ dạng sử dụng các vật liệu là gỗ, đá với kết cấu dạng xếp chồng thấp tầng sang dạng sử dụng vật liệu là bê tông cốt thép với kết cấu dạng khối cao tầng.
Milne (1898) [8] đã thực hiện nghiên cứu sự KĐDĐN tại hai trạm đo với cùng khoảng cách tới chấn tâm nhưng đặt trên hai nền khác nhau. Kết quả cho thấy giá trị trung bình dao động ngang của trạm này lớn hơn 5 và 10 lần so với trạm kia. Sự khác nhau được giải thích là do nền đặt trạm khác nhau. Các nghiên cứu tiếp theo đã chỉ ra sự KĐDĐN là do sự phản xạ nhiều lần của sóng động đất khi truyền qua các lớp đất yếu phủ phía trên lớp đá cứng [9] hay sự khuếch đại dao động mạnh xảy ra tại các vùng có lớp trầm tích phù sa dày [10, 11].
Hiện tượng HƯNĐ ghi được rõ ràng nhất là sự phá hủy công trình xây dựng ở thành phố Mê-hi-cô trong động đất Michoacan 1985 [12, 13]. Các kết quả cho thấy khu vực bồn trầm tích (đất yếu dày) cách xa vị trí chấn tâm hơn khu vực đồi núi (đất cứng) nhưng lại có biên độ sóng động đất lớn hơn từ 8 đến 50 lần (Hình 1. Một nghiên cứu khác [14] cũng chỉ ra hiện tượng tương tự. Giá trị gia tốc đỉnh (sau đây viết tắt là PGA) tại các trạm thuộc bồn trũng Đài Bắc đạt 200 cm/s2 lớn hơn nhiều so với các trạm nằm giữa chấn tâm và bồn trũng Đài Bắc.
Các nghiên cứu trên chứng tỏ nền đất địa phương n 7 làm khuếch đại đáng kể các sóng động đất tại mặt đất. Hơn nữa, nền đất địa phương còn là môi trường tương tác trực tiếp giữa sóng động đất và công trình xây dựng. Mỗi nền đất địa phương có các tham số đặc trưng riêng liên quan đến tính cơ-lý của đất, đá như: vận tốc sóng ngang (sau đây viết tắt là VS), mật độ, hệ số tắt dần chấn động, F0 và chiều dày các lớp. Trong đó, tham số VS và F0 là hai tham số quan trọng nhất do chúng liên quan trực tiếp đến tốc độ truyền sóng động đất và tần số cộng hưởng ảnh hưởng với công trình.
Do đó, các tiêu chuẩn thiết kế công trình chịu động đất đều dựa vào hay liên quan đến hai tham số này. Sơ đồ mô tả hiện tượng hiệu ứng nền đất tại bồn trũng Mê-hi-cô trong động đất Michoacan 1985 [12, 13]. Các trạm Caleta de Campos, Teacalco, UNAM đặt trên đá, SCT đặt trên vùng hồ. Ở giai đoạn tiếp theo, các nghiên cứu chủ yếu thực hiện đánh giá ảnh hưởng của ĐKNĐ địa phương đến sự KĐDĐN tại mặt đất.
Sandra và Ralph (1989) [15] đã thực hiện nghiên cứu sự KĐDĐN trong môi trường lớp phủ và đá cứng theo độ sâu cho thấy sự khuếch đại mạnh xảy ra trong môi trường lớp phủ phía trên đá cứng. Giá trị PGA tại bề mặt lớp phủ lớn hơn khoảng 5 lần so với giá trị PGA trong đá cứng. Trong khi đó, giá trị PGA trong đá cứng khác nhau không nhiều (Hình 1. Anderson (1996) [16] đã thực hiện nghiên cứu đặc tính động của các lớp đất, đá gần mặt đất cho thấy sự khuếch đại mạnh nhất xảy ra tại một vài lớp đất, đá phía trên n 8 cùng.
Sau đó, tác giả đã đề xuất sử dụng giá trị VS của các lớp đất, đá phía trên này để phân loại nền đất. Năm 2000, Dorbry [17] đã cải tiến cách phân loại nền đất của Anderson (1996) [16] bằng việc đề xuất tiêu chuẩn phân loại nền đất mới (gồm 5 loại nền là A, B, C, D và E thay thế cho các loại nền là S1, S2, S3 và S4 của Anderson (1996) [16]) dựa vào giá trị VS30. Từ đó đến nay, giá trị VS30 được dùng phổ biến trong nghiên cứu phân loại nền đất, đánh giá HƯNĐ và đánh giá rủi ro động đất trên thế giới. Các sơ đồ mô tả sự thay đổi biên độ sóng động đất theo độ sâu [15].
(a) Sơ đồ bố trí thiết bị đo và (b) Các băng gia tốc ghi được tại các độ sâu tương ứng. n 9 Do giá trị VS30 được sử dụng dễ dàng cho tính toán số và có định lượng. Ngày nay, nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra phương pháp xác định VS để tính giá trị VS30, một số phương pháp điển hình có thể được liệt kê như sau: 1) Phương pháp đâm xuyên và tác động đó là phương pháp đâm xuyên trực tiếp vào các lớp đất, đá cần khảo sát, sau đó thực hiện các phép đo trực tiếp trên các lớp đất, đá này. Phương pháp phổ biến nhất là khoan thăm dò.
Ở phương pháp này, giá trị VS của các lớp đất, đá được đo trực tiếp trong lỗ khoan hay tác động ở bên trong lỗ khoan. Một số kỹ thuật của phương pháp này hay được sử dụng như: 1- Sóng đi xuống (Down-hole) đó là kỹ thuật đo VS trực tiếp bên trong lỗ khoan bằng nguồn tác động ở bên ngoài lỗ khoan (đầu đo đặt ở bên trong lỗ khoan, dịch chuyển từ mặt đất xuống dưới đáy lỗ khoan, nguồn tác động đặt cố định tại mặt đất) [18, 19]; 2- Sóng đi lên (Up-hole) đó là kỹ thuật đo VS trực tiếp tại mặt đất bằng nguồn tác động ở bên trong lỗ khoan (đầu đo đặt cố định tại mặt đất, nguồn tác động đặt ở bên trong lỗ khoan và dịch chuyển từ trên xuống dưới) [20, 21]; 3- Sóng đi ngang hay chiếu sóng (Cross-hole) đó là kỹ thuật đo VS trực tiếp theo phương ngang (đầu đo và nguồn tác động được đặt ở hai lỗ khoan khác nhau và dịch chuyển song song theo phương đứng) [22, 23]; 4- Carota lỗ khoan hay PS-logging đó là kỹ thuật thu VS trực tiếp trong lỗ khoan theo khoảng cách không đổi (đầu đo và nguồn tác động đặt cách nhau một khoảng cố định và dịch chuyển đồng thời trong cùng một lỗ khoan) [24, 25] và 5- Nội suy từ số nhát đập trong thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (sau đây viết tắt là NSPT) đó là tính VS gián tiếp theo chỉ số NSPT thực nghiệm [10, 26-40] (Bảng 1. Giá trị VS xác định bằng các kỹ thuật này là chính xác nhất, tuy nhiên chúng có giá thành cao nên thường được áp dụng cho công trình đã cụ thể. 2) Phương pháp nguồn không đâm xuyên và tác động đó là phương pháp đo trường rung động gây ra do nguồn nổ cưỡng bức (nguồn nổ).
Nguồn nổ thường được sử dụng là: thuốc nổ, vật nặng rơi, búa máy, búa đập, máy biến rung, súng bắn hơi,…. nhằm tạo ra các sóng rung động cưỡng bức. Ở phương pháp này, thiết bị đo được bố trí theo tuyến đo và nguồn nổ được đặt ngay trên tuyến đo. Giá trị VS được xác định gián tiếp thông qua biểu đồ thời khoảng hay nghịch đảo từ biểu đồ đường cong tán sắc vận tốc pha của sóng mặt.
Một số kỹ thuật của phương pháp được áp dụng như: 1- Khúc xạ địa chấn hay phản xạ địa chấn [41, 42]; 2- Vi địa chấn khúc xạ [43, 44]; 3- Phân tích phổ sóng mặt [45, 46] và 4- Phân tích đa kênh sóng mặt n 10 [47, 48]. Các kỹ thuật này thường được sử dụng để xây dựng các tuyến mặt cắt ĐCCT 2D hay 3D. Tuy nhiên, chúng khó thực hiện trong các khu đông dân cư do giới hạn về không gian bố trí tuyến đo và phân bố điểm nổ. Ngoài ra, chúng còn phụ thuộc nhiều vào ĐKNĐ địa phương, đặc biệt là tại các vùng trầm tích yếu với mực nước ngầm nông.
Ở các vùng này, sóng S bị suy giảm nhanh làm cho giá trị VS thấp dẫn đến phép đo thực hiện khó khăn hơn. Để đo được, nguồn nổ phải có năng lượng lớn như thuốc nổ hay búa máy. Điều này lại khó khăn cho việc khảo sát do phải xin phép từ chính quyền địa phương. Bởi vậy, kỹ thuật này thường được sử dụng tại các vùng đất, đá phong hóa và cách xa khu vực đông dân cư.
3) Phương pháp đo DĐVĐC là phương pháp đo dao động tự nhiên trên mặt đất bằng các máy đo DĐVĐC. Giá trị VS được xác định gián tiếp thông qua phép nghịch đảo biểu đồ đường cong tán sắc vận tốc pha của sóng mặt từ số liệu đo mảng DĐVĐC [49-56] hay mô phỏng biểu đồ tỷ số phổ H/V (sau đây viết tắt là HVSR) từ số liệu đo DĐVĐC một trạm [57-64]. Phương pháp này dễ dàng thực trong các khu đông dân cư với chi phí rẻ và thời gian ngắn. Vì thế chúng thường được lựa chọn cho khảo sát ở các khu đông dân cư hay khu đô thị.