CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE GIẢI PHÁP GIA CO NEN DUONG TREN DAT YEU BANG HE THONG COC - TRU DAT XI MĂNG VÀ VAT LIEU DIA KY THUAT - GEOGRID 1.1 Giới thiệu Đồng băng sông Cửu Long ở miền Nam Việt Nam với diện tích đất đai thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đây còn là vị trí khu vực rất quan trọng trong giao thương quốc tế nhưng việc xây dựng cơ sở hạ tầng rất khó khăn khi tầng đất yếu có nơi dày 30-40m. Nhiều sự có thường xuất hiện khi xây dựng công trình trên đất yếu như sự mat ồn định tông thể hay mất ôn định cục bộ, độ lún quá mức cho phép do quá trình cô kết của đất yếu, lún lệch tại bề mặt nên dap, pha hoại cọc đơn hay nhóm coc gia có, nền dap bi phá hoại trượt ngang. Do đó, để khắc phục những hạn chế nói trên, nhiều nghiên cứu đã thực hiện đã đưa ra các giải pháp tăng nhanh quá trình cỗ kết của đất nền như: (a) gia tải trước hay xây dựng theo từng giai đoạn, (b) thêm hệ thống thoát nước đứng, (c) sử dụng vật liệu đắp trọng lượng nhẹ, đảo bỏ lớp đất yếu và thay thế băng vật liệu đắp thích hợp, (d) giảm độ dốc nền đắp và (e) thêm coc chống đỡ. Cả 4 giải pháp đầu tiên đều không thích hợp với các công trình đòi hỏi xây dựng nhanh do chúng đều dựa vảo hiện tượng cô kết của đất yếu và cần nhiều thời gian.
Phương pháp sử dụng coc được xem là giải pháp hợp lý cho việc xây dựng nên đắp trên đất yếu khi công trình chỉ xây dựng trong một giai đoạn mà không phải cần thời gian chờ đợi và giảm đáng kế độ lún chênh lệch và độ lún tong cộng. Coc chống đỡ có thé là cột cứng như cọc bê tông cốt thép, cột nửa cứng như cột xi măng trộn sâu ( [1], [2]) hay cột đá ( [3]) được sử dụng tùy thuộc vào điêu kiện dia chat và đặc điểm công trình xây dung. Gan đây, trụ đất xi măng được xem là giải pháp tối ưu dé cải thiện các đặc trưng cơ ly của đất yếu, đã và đang được áp dung rộng rãi trong việc xử lý móng và nền dat yếu cho các công trình xây dựng giao thông, thủy lợi, sân bay, bến cảng.như: làm tường hào chống thấm cho dé đập, sửa chữa tham máng công và đáy công, gia cô đất xung quanh đường hâm, ôn định tường chăn, chong trượt dat cho mái dôc, gia cô nên đường, mô câu dân, ngăn ngừa hiện tượng hóa lỏng của dat, cải tạo các vùng dat nhiễm độc.1 Cau tạo nền dap gia cố cọc kết hợp vật liệu địa kỹ thuật gia cường Hệ thống gia cố đất nền thông thường bao gồm: mũ cọc, cọc. Mũ cọc có tác dụng như sàn giảm tải cứng nhận tải trọng bên trên truyền xuống cọc đến tầng đất cứng chịu lực.
Nhưng đối với đất nền quá yếu như sét, bùn. hệ thong này đôi khi sẽ bị chìm vào trong đất nền do ma sat giữa cọc và đất yếu quá nhỏ. Mũ cọc đóng vai trò quan trọng trong việc giảm độ lún chênh lệch giữa mũ cọc và đất yếu giữa mũ cọc, khi đó có thể tăng hiệu quả cọc — nghĩa là tải trọng tác dụng lên cọc nhiều hơn. Trước đây, phương pháp truyền thống của nền đắp trên đất yếu gia cô cọc — không có lưới dia kỹ thuật gia cường — thường được sử dụng trong xây dựng công trình.
Thông thường, cọc nghiêng được thi công bên dưới chân mái đắp dé chịu lực Za, uae a 4 Mt coc tiết diện lớn FEFP ý s{ (CV Ác đ§ đồ có 2 64 LEE? ¿5Ú GDS OCERMFA Tâng đá cứng Hình 1-1 Nên đắp có gia cố cọc truyền thống [4] Vật liệu địa kỹ thuật ^ ‘ 3 : ti xe: tits a cớ ARR GV 7 ưv4 111 Ôn sí ee) rere me eee AA= Z4 Mũ cọc tiết diện nhỏ Cọc đứng FAGERAFAEREACECPEELEPEE#PELAEDPELEPCA?A@EFE Tang đá cứng Hình 1-2 Nên đắp gia cố cọc hiện nay [4] Hiện nay, hệ thống nền dap gia cố cọc có sử dụng thêm vật liệu địa kỹ thuật làm việc như một tâm màng lên các mũ cọc, tận dụng ưu điểm chịu kéo của tắm vật liệu địa kỹ thuật mà đất đắp không có dé kết hợp tạo thành tam cứng truyền tải trọng lên các mũ cọc ngăn cản sự hình thành áp lực gây chuyền vị ngang của dat đắp (Hình 1-2). Do đó, mũ cọc lớn và cọc xiên không còn sử dụng với hệ thống mới này. Ngoai ra, việc sử dụng vật liệu địa kỹ thuật còn giảm sự lún lệch, tăng sức chịu tải và ồn định mái dốc do khả năng chịu lực day ngang. Hệ thống mới này sẽ làm tăng đáng kể khả năng truyền tải trọng từ đất lên các mũ cọc mà không làm tăng chuyền vị của đất yếu giữa các mũ cọc.
Phương pháp này được áp dụng cho nền đắp trên tat cả các loại đất yếu, nên đất yếu sâu, ngăn chặn sự lún lệch giữa nên dap mới bên cạnh kết cau và nền hiện hữu, mà ở đó hoàn toàn tắt lún, cải thiện những tầng đất ở dưới. Đây là phương pháp kỹ thuật mới, hiện được một số nước tiên tiến trên thé giới nghiên cứu sử dụng va đã mang lại hiệu quả kinh tế đáng kế với tốc độ thi công nhanh. Nhìn chung, để tăng tải trọng truyền lên cọc và giảm ti số thay thế diện tích, một hay nhiều lớp vật liệu địa kỹ thuật gia cường (Geosynthetic Reinforcement — GR) được đặt hệ thống nền đắp gia CỔ cọc (Kempton et al. Hệ thống cọc có GR thường được sử dụng phô biến cho đường đầu cau, bể chứa, mở rộng nền đường, tường chan và nền dap dé tạo ra một sản truyền tải hiệu quả như đánh giá của nhiều nghiên cứu (Han and Gabr, 2002).
Dựa trên nhiều nghiên cứu thực nghiệm, GR có nhiều loại, có thé chịu kéo 2 phương hay 1 phương với cường độ chịu kéo thay đôi giữa 20 đến 1100 kN/m, thường sử dụng đến 3 lớp GR. Bridge Traffic loading ⁄ tì cột 4 i Fill Geosynthetic ERICA |||| | ' Soft Alluvium ——_1_1__ Transitional ceex=x=zxr~~===” Uniaxial geogrids le nao vcvosaise (EE EE Structural Embankment = — —B--------------- Concrete Pile. ` Sic act is) abs ORO AT Support Pites Geosynthetic reinforced Support Piles fill platform (a) Bridge approach support piling (Reid et al., 1993) pe gi sẽ Jet grout columns (SPT N=0 to 1) Centerline H Pavement ( =- Clayey silt (SPT N>10) cm.2 Tổng quan về giải pháp gia có nền đất yếu bang tru DXM Sau đại chiến thế giới thứ 2 năm 1954, lần đầu tiên Mỹ nghiên cứu thành công phương pháp thi công cọc trộn tại chỗ, gọi là ‘Mixed In-place Pile — MIP’ dùng chat liên kết là vôi có đường kính từ 0. Sau đó, công nghệ trộn đất theo chiều sâu bắt đầu từ Thụy Điền và Nhật Ban từ thập niên 1960 và đến nay được thành hai loại: theo chất kết dính (vôi, xi măng, thạch cao, tro bay.), theo phương pháp trộn (khô/ ướt, quay/ phun tia, guồng xoăn hoặc lưỡi cat) [5].
Tại Việt Nam, công nghệ trụ đất xi măng (hay vôi) đã bắt đầu nghiên cứu vào năm 1980 với sự giúp đỡ của Viện Dia kỹ thuật Thụy Điền. Công trình dân dụng va công nghiệp đầu tiên ở phía Nam ứng dụng công nghệ này năm 2001 với khối lượng khoảng 50. Đến năm 2002, một số dự án bắt đầu ứng dụng vào các công trình trên nên đất yếu ở Việt Nam như dự án Cảng Ba Ngòi (Khánh Hòa) đã sử dụng 4000m trụ đất xi măng có đường kính 600m thi công bằng trộn khô. các nhà thầu Nhật đã sử dụng Jet-Grouting để sửa chữa khuyết tật cho các cọc nhồi của câu Thanh Trì (Hà Nội).
Trụ đất xi măng có dạng trụ tròn được tạo thành bang hỗn hop dat — xi mang với công nghệ trộn sâu. Nguyên lý của phương pháp thi công trụ dat xi măng là: phut vào trong lỗ rỗng của đất có sẵn hoặc được tạo ra trong quá trình bơm vữa, hay khe nứt của đá một lượng xi măng cần thiết theo thiết kế. Sau đó, vữa xi măng sẽ ninh kết hay hóa keo giúp giảm lỗ rỗng, tính thâm và làm tăng khả năng chịu tải của nên đất hay đá dưới công trình xây dựng. Nguyên lý làm việc cơ bản của việc gia cỗ xi măng đất là xi mang sau khi được trộn với đất sẽ sinh ra một loạt phản ứng hóa học roi dần dan đóng ran lại, các phản ứng chủ yếu như: phản ứng thủy giải và thủy hóa của xi măng xảy ra do sự kết hợp các khoáng vật trên bề mặt xi măng với nước trong đất yêu, sản phâm sinh ra của phản ứng này tiép tục tác dụng với các hat dat sét: - Phản ứng thủy giải và thủy hóa của xi măng: xi măng thông thường chủ yếu do các chat Oxid va Oxid Canxi, Oxid Silic lần lượt tạo thành các khoáng vật xi măng khác nhau: Silicat tricalxi, Aluminat tricalxi, Silicat dicalxi,.
Khi dùng xi măng gia có nền đất yếu, các khoáng vật trên bề mặt xi măng nhanh chóng xảy ra phan ứng thủy giải và thủy hóa với nước trong đất yếu tạo thành các hợp chất như Hydroxid Calci, Silicat Calci ngậm nước, Aluminat Calci ngậm nước. theo các công thức sau: Xi măng + Nước = Keo CSH + Ca(OH)2 - Tác dụng của đất sét với các chất thủy hóa của xi măng: sau khi các chất thủy hóa của xi măng tạo thành, tự thân trực tiếp đóng răn, hình thành bộ khung xương đá xi mang, tiép dén phan ứng với các hat đất sét có một hoạt tính nhất định ở xung quanh. - Tác dụng Cacbonat hóa: Hydro Calci trôi nồi trong chất thủy hóa xi măng có thé hap thụ Cacbonic trong nước va trong không khí sinh ra phản ứng Cacbonat tao thành Calci Cacbonat không tan trong nước. Từ những nguyên lý trên cho thấy, do tac dụng cắt got và nhào trộn của can khoan nên trên thực tế không thể tránh được trường hợp đất còn sót lại dưới dạng cục từ đó lượng xi măng được phun vào khối đất không được phân bố đồng đều.
Do đó trong xi măng đất sẽ có những vùng cường độ khá cao và tính ôn định nước khá tốt xen kẽ những vùng có cường độ thấp hơn. Vì vậy, việc trộn cưỡng bức giữa xi măng và đất càng kỹ thì sự phân bố xi măng trong khối đất càng đồng đều và cường độ của trụ dat xi măng sẽ cao hơn.