Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nguyên liệu rơm rạ 1.1 Hiện trạng sản xuất lúa và sử dụng rơm rạ Ở Việt Nam hiện nay thì ngành trồng lúa gạo là ngành chủ lực trong phần trăm cơ cấu cây trồng và phân công lao động xã hội ở nước ta[18]. Việt Nam có một thế mạnh về sản xuất lúa gạo và là một trong những nước xuất khẩu gạo đứng đầu trên thế giới [2], vì thế lúa gạo còn có vai trò to lớn trong việc thu ngoại tệ về cho đất nước và đảm bảo an ninh lương thực.
Trước đây rơm rạ được coi là một loại sản phẩm phụ hữu ích thu hoạch được: chất đốt, lợp nhà, thức ăn cho gia súc, vật che phủ cho trồng trọt. Nhưng do nhu cầu về lương thực mà sản lượng lúa ngày càng gia tăng, cùng với đó là nguồn rơm rạ không thể tận dụng hết, nên rơm rạ đã trở thành một nguồn phế thải khó xử lý trong nông nghiệp. Các hình thức sử dụng rơm phổ biến bao gồm [31]: - Sử dụng rơm tại ruộng: vùi gốc rạ, phủ rơm, ủ phân rơm, đốt đồng - Mang rơm ra khỏi ruộng: làm thức ăn chăn nuôi, chất đốt, khí hóa, biogas, làm chất đốt dạng lỏng, vật liệu xây dựng, sản xuất giấy, chống sạt lở, trồng nấm,… Sử dụng rơm rạ tại ruộng - Vùi gốc rạ: Rơm bị mục nát và phân hủy khi có sự có mặt của độ ẩm và oxy. Rơm sẽ phân hủy nhanh hơn khi được vùi trong đất có độ ẩm khoảng 60% và nhiệt độ trên 250C.
Trong điều kiện hiếu khí (aerobic), vi khuẩn phân hủy rơm thành chất hữu cơ, khoáng và CO2. - Phủ rơm: Rơm có thể dùng để phủ cho lúa hoặc các loại cây trồng khác. Việc phủ rơm có thể làm giảm bốc hơi nước từ đất, làm tăng lượng nước thấm vào đất (giữ nước) và bảo vệ đất không bị xói mòn (đặc biệt ở vùng đất dốc). Lớp rơm có tác dụng làm giảm bốc hơi nước nhiều hơn làm xói mòn đất.
- Ủ phân rơm: Bón phân rơm làm tăng việc tái sử dụng chất dinh dưỡng có trong rơm, cung cấp lại cho đồng ruộng. Với 1 tấn rơm (trọng lượng khô) trả lại cho 8 đất, có khoảng 5 – 8 kg N; 0.7 kg Ca và 1. Để rút ngắn thời gian ủ phân bón lại cho đất, nhiều nghiên cứu về ủ rơm có sự trợ giúp của nấm Trichoderma sp đang được nghiên cứu và áp dụng tại Philippines, Ấn Độ và Việt Nam [9] [10]. Với cách ủ này, thời gian ủ để rơm hoai mục rút ngắn còn 30 – 36 ngày.
- Đốt đồng: Đốt đồng được nông dân xem là biện pháp ít chi phí nhất đối với hộ nông dân trong các hình thức quản lý và sử dụng rơm. Khi đốt rơm, nhiều khí thải phát sinh làm ô nhiễm môi trường không khí như bụi, CO, CH4, H2, HCl, poly aromatic hydrocacbons (PAH), NO và sợi silica (biogenic silica fibres) kéo dài thời gian phát thải các khí trên vào không khí có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe cộng đồng.2 Thành phần, cấu trúc của rơm rạ Rơm là các thân cây khô của cây ngũ cốc, sau khi đã thu hoạch các hạt. Thành phần hóa học của rơm rạ tính theo khối lượng khô gồm cellulose – 60%, lignin 14%, protein – 3,4%, lipid – 1,9%. Nếu tính theo nguyên tố thì C chiếm 44%, H – 5%, oxy – 49%, N khoảng 0,92%, một lượng nhỏ photpho, lưu huỳnh và kali.
Rơm rạ được coi là một dạng vật liệu lignocellulose [5]. Cấu trúc của lignocellulose được miêu tả như sau: Hình 1. Cấu trúc của lignocellulose [5] Thành phần chính của vật liệu lignocellulose là cellulose, hemicellulose, lignin, các chất trích ly và tro; trong đó, thành phần cellulose chiếm chủ yếu. 9 - Cellulose là loại polymer phổ biến nhất trên trái đất, là một polymer mạch thẳng của d-glucose, các d-glucose được liên kết với nhau bằng liên kết β,1-4 glucosid [27].
Công thức hóa học và cấu trúc không gian của cellulose [41] - Hemicellulose là một loại polymer phức tạp chứa cả đường 6 gồm glucose, mannose và galactose và đường 5 gồm xylose và arabinose [36]. Thành phần cơ bản của hemicellulose là β-d xylopyranose, liên kết với nhau bằng liên kết β-(1,4) [38]: Hình 1. Cấu trúc và thành phần của hemicellulose [37] - Lignin là một loại polyphenol có cấu trúc mở. Trong tự nhiên, lignin chủ yếu đóng vai trò chất liên kết trong thành tế bào thực vật, liên kết chặt chẽ với mạng cellulose và hemicellulose [12].
a – Cấu trúc tổng quát lignin; b – Các đơn vị cơ bản của lignin [12].3 Hiện trạng sử dụng rơm rạ trên địa bàn Hà Nội Tại thành phố Hà Nội tỷ lệ đốt rơm rạ ở các huyện trung bình khoảng 20% tổng lượng rơm rạ phát sinh sau vụ đông xuân 2021 (hơn 710. Nhiều huyện có tỷ lệ đốt rơm rạ cao như: Gia Lâm, Thường Tín, Thạch Thất, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Quốc Oai. Trong đó, xã Đắc Sở (huyện Hoài Đức) và Liệp Tuyết (huyện Quốc Oai) với tỷ lệ đốt rơm rạ cao nhất của các huyện này [5, 6], trong khi xã Thọ Xuân (huyện Đan Phượng) là 1 trong 2 điểm thực hiện mô hình “Cánh đồng không đốt rơm rạ” từ vụ xuân năm 2017 đến hết năm 2018 tại thành phố Hà Nội [13, 23], Năm 2019 theo kết quả điều tra khảo sát thực tế của trưởng ĐH Khoa học Tự Nhiên- ĐHQGHN, hiện trạng sử dụng rơm rạ trên địa bàn ngoại thành thành phố Hà Nội như sau [8]: - Tỉ lệ rơm rạ dùng để đun nấu trong gia đình là thấp nhất khoảng 1%; - Một phần rơm rạ được đốt cháy trong thôn làng chiếm 2%; - Rơm rạ được sử dụng làm thức ăn gia súc chiếm 5%; - Rơm rạ đã được chôn vùi trong đất cho vụ tiếp theo và đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng chiếm lượng khá lớn (44%) - Các mục đích khác như vùi trong đất, che phủ các loại cây trồng, trồng nấm chiếm 48%. Khảo sát hiện trạng đốt rơm rạ trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2019 [8] Tỷ lệ đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng chiếm dưới 50%; đốt cháy 2 lần mỗi năm (2 vụ), mỗi lần trong khoảng 2 tuần đến 1 tháng.
Do đó, nó trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với môi trường và sức khỏe con người. Các khí thải từ đốt rơm rạ trên cánh đồng tập trung nhiều ở các huyện Ứng Hòa, Ba Vì, Sóc Sơn, Chương Mỹ, sau đó là Đông Anh, Thường Tín, Mỹ Đức, Thanh Oai, Mê Linh, Quốc Oai, Thạch Thất, Phúc Thọ, Gia Lâm, Sơn Tây, Hoài Đức, Đan Phượng, Thanh Trì, Phú Xuyên, Từ Liêm. Ảnh hưởng của việc đốt rơm rạ Rơm rạ chứa khoảng 0,6% N là nguồn cung cấp đạm quan trọng nếu trả lại cho đất. Giả sử tỉ lệ hạt trên rơm rạ là 2/3 thì tổng lượng rơm rạ là trên 6 triệu tấn.
Khi đó, rơm rạ này chứa khoảng 3,6 triệu tấn P2O5 và 9,6 K2O [15]. Đốt rơm là một giải 12 pháp dễ thực hiện và để diệt trừ các dịch bệnh có thể gây hại. Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho rằng việc đốt rơm này đã làm cho môi trường sinh thái mất cân bằng và mất đi một số lượng đáng kể N, P và trên đồng ruộng, tăng lượng CO2 gây ô nhiễm môi trường. Đốt rơm nhiệt độ lên đến 7000C, ở nhiệt độ này tất cả cacbon và đạm, 25% P, 21% K và phần lớn lưu huỳnh bị mất đi.
Với 1 vụ mùa có hàm lượng rơm là 5 tấn/ha thì sẽ bị mất vào khoảng 45 kg N, 2 kg P, 25 kg K và khoảng 2 kg S khi đốt. Thêm vào đó, việc đốt rơm làm cho silica trở nên ít hòa tan hơn khi bón rơm rạ tươi [35]. Theo nghiên cứu của Võ Thị Gương năm 2008 [11] cho thấy đốt rơm làm giảm chất hữu cơ trong đất nhưng lại tăng hàm lượng lân hữu dụng trong đất. Ngoài ra, khi đốt rơm sẽ cung cấp cho đất khoảng 8 – 12 kg P2O5/ha ở mỗi vụ canh tác.
Vùi rơm ở đất ngập lũ kéo dài đưa đến các tiến trình sinh hóa trong đất như: thay đổi điện hóa học và làm giảm sự liên kết trong đất, sự cố định đạm và bất động đạm, sản xuất ra nhiều acid hữu cơ đồng thời phóng thích ra các khí như: CO2, H2S, CH4, NH3 [24]. Đồng thời trở ngại lớn nhất của việc phân hủy là lignin là một trong những thành phần ngăn cản sự phân hủy của vi sinh vật trong điều kiện yếm khí, trong đó hàm lượng rơm lúa chứa khoảng 15% lignin. Chính các quá trình này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự hấp thu dưỡng chất của lúa. Sự tích lũy phenolic là một đặc trưng của điều kiện phân hủy yếm khí hay gần yếm khí và thường xảy ra trong giai đoạn đầu của sự mùn hóa chất hữu cơ trong điều kiện ngập liên tục của lúa nước.
Thiếu oxy trong điều kiện ngập nước thường xuyên làm hạn chế sự hoạt động của vi sinh vật đất, đưa đến sự suy giảm hoạt động phân hủy lignin vào thành phần mùn của đất [34], kết hợp N làm giữ chặt N trong đất nên cây trồng không hấp thu được. Các nhóm chất này sẽ kết hợp với các dưỡng chất đặc biệt là N, làm giảm khả năng khoáng hóa cung cấp N từ đất và ảnh hưởng đến năng suất lúa. Trong điều kiện ngập nước thì nguồn cung cấp đạm khá tốt là vật chất hữu cơ [40]. Lợi ích của hàm lượng hữu cơ đất cao làm tăng khả năng trao đổi cation, hoàn trả lân và sắt ở dạng dễ tiêu cho cây.
Nhưng khi hàm lượng chất hữu cơ quá cao sẽ 13 làm giảm sự hữu dụng của kẽm. Vì vậy việc vùi rơm sẽ làm tăng cacbon trong đất và sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng của cây lúa. Việc chôn vùi rơm rạ khi chưa được phân hủy cũng ảnh hưởng đến cây trồng như gây ngộ độc hữu cơ cho bộ rễ, làm giảm hiệu quả hấp thu dinh dưỡng, giảm sự sinh trưởng và năng suất lúa [14]. Kết quả sử dụng phân rơm hữu cơ và phân sinh học kết hợp nitơ hóa học ở mức 25 kg/ha cho cây lúa ở An Giang, Cần Thơ, Long An cho thấy năng suất gia tăng, giảm lượng phân hóa học, các vi sinh vật có lợi trong đất tăng chất mùn.
Ngoài ra số lượng và chất lượng chất hữu cơ trong đất đều có ảnh hưởng đến tiến trình phân hủy nhanh hay chậm [20]. Số lượng chất hữu cơ càng nhiều thì sự phân hủy trong điều kiện yếm khí xảy ra càng chậm.