PHẦN MỞ ĐẦU 1. Đối tượng và mục tiêu của luận văn Hiện nay, địa chỉ IPv4 đang ngày càng cạn kiệt. Tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, gói địa chỉ IPv4 cuối cùng đã được cấp phát. Hơn thế nữa, với xu thế thiết bị cá nhân ngày càng được sử dụng rộng rãi thì số lượng địa chỉ cần cung cấp trong tương lai là rất lớn.
Để đối phó với tình trạng thiếu hụt địa chỉ IPv4, nhiều giải pháp đã được đưa ra như dual-stack, đường hầm, NAT…, nhưng những giải pháp này chỉ mang tính tạm thời và còn có khả năng làm giảm tính bảo mật trong mạng. IPv6 ra đời sẽ giải quyết triệt để vấn đề này, cộng thêm những đặc tính ưu việt đã được tích lũy từ kinh nghiệm phát triển IPv4, IPv6 hứa hẹn sẽ đáp ứng tất cả những yêu cầu của một mô hình mạng hiện đại và rộng lớn trong tương lai. Việc chuyển đổi từ IPv4 sang IPv6 không đơn giản, nó đòi hỏi sự thay đổi cả về hạ tầng cơ sở lẫn nhận thức của nhà cung cấp cũng như người sử dụng dịch vụ. Việc triển khai thử nghiệm mạng IPv6 trên thế giới (tiêu biểu là mạng thử nghiệm 6BONE) đã được triển khai khá lâu, hiện nay hầu hết các mạng thử nghiệm đã ngừng cung cấp phương tiện thử nghiệm và bắt đầu triển khai trên thực tế.
Các trang web lớn như Facebook, Google, Yahoo. hiện cũng đã triển khai ứng dụng trên mạng IPv6. Tại Việt Nam, mục tiêu đặt ra đến năm 2020 sẽ hoàn thành việc chuyển đổi từ IPv4 sang IPv6. Ta thấy quỹ thời gian là không nhiều, một số quốc gia phát triển thường mất ít nhất 10 năm mới có thể hoàn thành quá trình chuyển đổi.
Việc bộ Thông Tin & Truyền Thông đã đưa ra nhiều thông tư về IPv6 cũng như VNNIC và một số nhà mạng lớn đã tiến hành tập huấn và thử nghiệm mạng IPv6 cho thấy sự quan tâm của Việt Nam trong sự kiện toàn cầu, mặc dù chậm trễ so với thế giới. Nhằm tạo ra cái nhìn khái quát về tình hình phát triển ứng dụng IPv6, bên cạnh những khái niệm và mô hình mạng IPv6, học viên đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu về IPv6, Mobile IPv6 và ứng dụng Mobile IPv6 tại Việt Nam” cho luận văn thạc sỹ. Đối tượng chính của đề tài là tìm hiểu IPv6, Mobile IPv6. Đây chính là bước đầu tiên trong quá trình chuyển đổi từ IPv4 sang IPv6, đó là tạo cơ sở lý thuyết và phổ biến hiểu biết về IPv6 ra cộng đồng.
Sau đó luận văn sẽ trình bày cụ 8 thể tình hình ứng dụng IPv6, Mobile IPv6 tại Việt Nam để chỉ ra tình hình và khả năng ứng dụng IPv6, Mobile IPv6 tại Việt Nam. Cuối cùng là các bản demo mô phỏng mô hình mạng IPv6, Mobile IPv6 để mô hình hóa mạng IPv6 trên thực tế. Tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực đề tài Tại Việt Nam, trước năm 2008, những cá nhân nghiên cứu tìm hiểu IPv6 và Mobile IPv6 tại Việt Nam chủ yếu là các học viên và giảng viên các trường đại học. Tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội, năm 2006 đã có luận văn tìm hiểu về IPv6 (tham khảo đề tài “IPv6 và định tuyến trong mạng IPv6”)[19] cũng đã trình bày chi tiết về cấu trúc của IPv6.
Cũng tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội, đề tài “Mobile IP và ứng dụng”[20] cũng có phần trình bày về Mobile IPv6. Sau đó là các đề tài nghiên cứu về cách thức sử dụng mạng IPv6 trên nền IPv4 (như Dual-stack, 6to4, 4to6…), kết quả của các bài luận này nhanh chóng trở thành những bài lab tối thiểu khi học về IPv6 tại các trung tâm đào tạo. Có thể thấy Việt Nam đã cảm nhận được sức nóng của IPv6 từ khá lâu, tuy nhiên giai đoạn này vẫn chưa thấy được sự quan tâm của các nhà quản lý và lập kế hoạch. Hơn thế nữa, giao thức IPv6 vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm để hoàn thiện nên một số lý thuyết nghiên cứu trong giai đoạn này đã bị thay đổi trong phiên bản cập nhật cho giao thức mới hiện nay.
Sau năm 2008, được sự quan tâm của bộ thông tin truyền thông, các lớp học và tập huấn về IPv6 đã được một số doanh nghiệp viễn thông lớn tại Việt Nam (như Viettel, VNPT) thực hiện nhằm tạo nền tảng về IPv6 cho quá trình chuyển đổi sau này. Tuy nhiên, tại Việt Nam hầu như không có những công trình nghiên cứu chuyên sâu và chi tiết về Mobile IPv6. Tất cả chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu lý thuyết. Lý do của vấn đề này là Mobile IPv6 là một lĩnh vực mới, chưa có nhiều hỗ trợ cả về phần cứng và phần mềm, gây khó khăn cho người tìm hiểu muốn triển khai thực tế.
Trên các diễn dàn về mạng tại Việt Nam, những luồng trao đổi về lý thuyết và mô phỏng Mobile IPv6 hầu như mới xuất hiện và vẫn chưa nhận được sự quan tâm trả lời. 9 Trên thế giới, quá trình nghiên cứu về IPv6 đã được sự quan tâm của các trường đại học lớn và các tập đoàn lớn như Nokia, Motorola, Microsoft…Họ cùng nhau xây dựng môi trường thử nghiệm để phát triển và hoàn thiện giao thức mạng thế hệ 6. Tiêu biểu là mạng thử nghiệm 6BONE cho phép người sử dụng trải nghiệm về IPv6 một cách thực tế. Hiện nay, thế giới đã qua giai đoạn thử nghiệm để vào giai đoạn khai thác.
Phiên bản IPv6 cũng đã chính thức xuất hiện trong hệ điều hành Window 7, các phiên bản mới của hệ điều hành Android, iOS, Blackberry OS…Ở đây, việc hỗ trợ IPv6 là mặc định mà người sử dụng không phải cài đặt thêm phần mềm bổ trợ. Riêng về Mobile IPv6, từ những năm 2000, phòng thí nghiệm Motorola Labs Paris hợp tác với nhóm INRIA PLANETE phát triển phần mở rộng mobiwan hỗ trợ phần mềm NS mô phỏng mạng Mobile IPv6 [16]. Phần mở rộng này chỉ hỗ trợ những chức năng cần thiết để mô phỏng Mobile IPv6 chứ không hoàn thiện toàn bộ giao thức MIPv6. Một số phần mềm hỗ trợ mô phỏng Mobile IPv6 như OPNET, OMNET…Tuy nhiên phiên bản dành cho giáo dục lại có nhiều hạn chế so với phiên bản thương mại.
Phần mở rộng UMIP được phát triển tử dự án USAGI cho phép mô phỏng Mobile IPv6 trên các thiết bị di động (hỗ trợ các hệ điều hành UNIX). Tháng 2/2012, Jan Zorz đã trình diễn demo về Mobile IPv6 trên thiết bị di động tại V6 World Congress Paris (Pháp). Những dẫn chứng trên cho thấy mạng IPv6 đã dần hoàn thiện trên thế giới, nhưng Mobile IPv6 lại là một lĩnh vực mới mẻ. Tuy vậy, Mobile IPv6 được coi là xu thế mới và rất được chú ý phát triển đáp ứng cho những phương thức liên kết tiên tiến trong tương lai.
10 Phần 2 : TỔNG QUAN VỀ IPV6 2. Giới thiệu IP phiên bản 6 (IPv6) là một giao thức mạng phiên bản mới được thiết kế như là sự kế thừa cho IP phiên bản 4 (IPv4) [RFC-791]. Các thay đổi từ IPv4 sang IPv6 thuộc chủ yếu tập trung vào những điều sau: Khả năng mở rộng địa chỉ: IPv6 làm tăng kích thước địa chỉ IP từ 32 bit đến 128 bit, hỗ trợ các hệ thống phân cấp ở nhiều mức độ, với số lượng các nút địa chỉ lớn, và tự động cấu hình của địa chỉ một cách đơn giản. Khả năng mở rộng của định tuyến multicast được cải thiện bằng cách thêm vùng "scope" vào địa chỉ multicast.
Và một loại mới địa chỉ được gọi là "địa chỉ anycast" được định nghĩa và sử dụng để gửi một gói tin đến bất kỳ nút nào trong một nhóm nút. Định dạng tiêu đề đơn giản hóa: Một số phần trong tiêu đề IPv4 đã được giảm xuống hoặc biến thành tùy chọn, giảm việc xử lý gói tin và tiết kiệm băng thông của tiêu đề IPv6. Hỗ trợ mở rộng và các tùy chọn: Những thay đổi trong cách lựa chọn tiêu đề IP được mã hóa cho phép chuyển tiếp hiệu quả hơn, ít nghiêm ngặt giới hạn về độ dài lựa chọn, và có tính linh hoạt lớn hơn cho việc thêm các tùy chọn mới trong tương lai. Flow Labeling Capability: Một khả năng mới được thêm vào cho phép ghi nhãn của các gói tin thuộc luồng truy cập đặc biệt giúp người gửi xử lý những yêu cầu đặc biệt, ví dụ như dịch vụ thời gian thực.
Xác thực và khả năng bảo mật: Phần mở rộng cho phép hỗ trợ xác thực tính toàn vẹn dữ liệu, và tùy chọn bảo mật dữ liệu được quy định cụ thể cho IPv6. Phân loại địa chỉ IPv6 [2] Địa chỉ IPv6 gồm 128-bit định danh cho giao diện. Có ba loại địa chỉ: 11 Unicast: định danh cho một giao diện duy nhất. Một gói tin gửi đến một địa chỉ unicast được gửi đến giao diện được xác định bởi địa chỉ đó.
Địa chỉ Unicast được chia thành các nhóm nhỏ như sau: o Địa chỉ Global Unicast: được sử dụng để định dạng các giao diện; cho phép thực hiện kết nốt các host trong mạng Internet IPv6 toàn cầu. Tính chất loại địa chỉ này cũng giống như địa chỉ IPv4 định danh một host trong mạng Internet hiện nay. o Địa chỉ Site-local: được sử dụng để định dạng các giao diện; cho phép thực hiện các kết nốt giữa các host trong mạng local. o Địa chỉ link-local: được sử dụng để định danh một giao diện.
Anycast: định danh cho một tập hợp các giao diện (thường thuộc các nút khác nhau). Một gói tin gửi đến một địa chỉ anycast được gửi đến một trong các giao diện xác định bởi địa chỉ này (giao diện “gần nhất” theo định nghĩa của các giao thức định tuyến). Multicast: định danh cho một tập hợp các giao diện (thường thuộc các nút khác nhau). Một gói tin gửi đến một địa chỉ multicast được gửi đến tất cả các giao diện xác định bởi địa chỉ đó.
Trong IPv6 không có khái niệm địa chỉ broadcast, chức năng của nó được thay thế bằng các địa chỉ multicast. Tất cả các loại địa chỉ IPv6 được gán cho giao diện, không gán cho nút. Một địa chỉ unicast IPv6 là một giao diện duy nhất. Khi mỗi giao diện thuộc về một nút duy nhất, bất kỳ địa chỉ unicast của nút địa chỉ cũng có thể được sử dụng như là một định danh cho nút.
Tất cả các giao diện yêu cầu phải có ít nhất một địa chỉ Link-Local unicast địa chỉ. Một giao diện duy nhất cũng có thể có nhiều địa chỉ IPv6 bất kỳ các loại (unicast, anycast và multicast). Cách mô tả một địa chỉ IPv6 Có ba hình thức thông thường để trình bày một địa chỉ IPv6 theo chuỗi: 1.