phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 03 chương: Ch ơng 1: Mạng l ới gi o th ng ng bộ và iều kiện t nhiên khu v ồng Nai. Ch ơng 2: Cơ s lý thuyết gia c vật liệu bằng ch t kết ính v ơ và nghiên c u th c nghiệm. Ch ơng 3: h năng s d ng p ph i ăm gi i măng và tro y trong xây d ng móng và m t ng ô tô tại ồng Nai. 4 CHƢƠNG 1: MẠNG LƢỚI GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC ĐỒNG NAI 1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực Đồng Nai 1. Giới thiệu chung về vị trí địa lý và tình hình kinh tế - xã hội Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ có diện tích 5.903,94 km2, Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2011 là 2.100 người, mật độ dân số: 451 người/km2. Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 897.600người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.500 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2011 là 1,2%.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai 5 Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; Thị xã Long Khánh và 9 huyện: Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú; Long Thành; Nhơn Trạch. Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm ở phía Nam, Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau: - Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận.
- Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng. - Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh. - Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước. - Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Là một tỉnh có hệ thống giao thông rất thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 20, quốc lộ 51, quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua, gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. GDP năm 2011 toàn tỉnh đạt 96.820 tỷ đồng, GDP bình quân đầu người đạt 36,6 triệu đồng, các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh hầu hết đều đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực, công nghiệp - xây dựng chiếm 57,3%, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 7,5%, dịch vụ chiếm 35,2%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 9,8 tỷ USD, tăng 30,3% so với cùng kỳ, thu ngân sách trên địa bàn đạt 22.
Đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 900 triệu USD, vốn đầu tư trong nước đạt 15.200 lượt hộ nghèo được vay vốn với số tiền 67 tỷ đồng. Số hộ nghèo năm 2011 giảm 7.800 hộ, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%. Đồng Nai đã có bước tiến nhanh trong đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cho hệ thống giao thông, nhất là giao thông đường bộ,hệ thống quốc lộ với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được nâng cấp mở rộng thành tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (QL1, QL51), cấp III đồng bằng như QL 20 (tuyến 6 đi Đà Lạt, trên địa bàn tỉnh dài 75km đã được trải thảm lại mặt đường). Hệ thống đường bộ trong tỉnh có chiều dài 3.339 km, trong đó gần 700km đường nhựa Ngoài ra, hệ thống đường phường xã quản lý, đường các nông lâm trường, KCN tạo nên 1 mạng lưới liên hoàn đến cơ sở, 100% xã phường đã có đường ô- tô đến trung tâm.
Theo quy hoạch trong tương lai gần, hệ thống đường cao tốc đi Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. Hồ chí Minh, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, nâng cấp tỉnh lộ 769 nối quốc lộ 20, quốc lộ 1 với quốc lộ 51., sẽ tạo nên một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội địa phương và khu vực. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên khu vực Đồng Nai Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11.
Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình năm 25 - 27oC, nhiệt độ cao nhất khoảng 20.5oC, số giờ nắng trong năm 2500 – 2700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82 %. Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động, thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại như kim loại quý, kim loại màu, đá quý, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xây dựng, phụ gia xi măng, than bùn, nước khoáng và nước nóng… Thu thập tài liệu khí tượng thủy văn trong những năm gần đây (từ năm 2009 - 2013) cho ta thấy lượng mưa ngày lớn nhất đạt 113.0mm, xuất hiện vào tháng 7/2010.
Tổng hợp khí hậu khu vực tỉnh Đồng Nai từ năm 2009 – 2013 thu thập tại Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ thuộc Trung Tân Khí tượng Thủy văn Quốc gia như sau: 7 Bảng 1.1: Bảng thống kê về lượng mưa tháng của khu vực tỉnh Đồng Nai từ năm 2009 đến năm 2013 Năm 2009 2010 2011 2012 2013 Tháng R Rx R Rx R Rx R Rx R Rx 1 0,6 0,6 30,7 16 8,2 1,6 14,4 7,8 4 2,0 2 91,2 73 0 0 0 0 65,9 45,9 1 0,7 3 103 58 17,7 17,7 117,4 47,3 90,8 71,4 3,3 2,0 4 174 41 29,6 18 71,7 25,7 258 76,6 110 40 5 240 56 18 5 387 65,2 339,2 63,2 240 60 6 239 55 252 52 236 56,7 221,8 93,8 234 49 7 265 51 416 113 375,8 75 377,3 69,9 378 72 8 367 82 235 44 279,4 57,6 136,5 38,5 318 40 9 489 88 177 58 753,5 103,1 433,4 73 246 33 10 269 48 31,5 63 195,7 51,1 106,8 34,2 233 34 11 43 33 195 43 125,1 45 35,1 21,2 140 77 12 19,8 17 43,2 31 0 0 5,5 4,6 18,1 15 Năm 2189 88 1293 113 631,2 103,1 2084,7 93,8 1925,4 77 Trong đó: - R là lượng mưa tháng (mm) - Rx là lượng mưa ngày cao nhất trong tháng (mm) (Nguồn: Trung t m khí t ợng Thủy văn Qu gi ài khí t ợng Thủy văn khu v N m Bộ, s liệu trạm thủy văn khu v Bi n Hò - ồng N i). Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng với những núi rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng Bắc Nam, với địa hình tương đối bằng phẳng. Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp. Đất phù sa, đất 8 gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm.
Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc nhỏ hơn 8 o, đất đỏ hầu hết nhỏ hơn 15o. Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao. Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính, tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung gồm: các loại đất hình thành trên đábazan, các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét, các loại đất hình thành trên phù sa mới.
Trong tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm 49.1%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 30.4%, diện tích đất chuyên dùng chiếm 13%, diện tích đất khu dân cư chiếm 2.1%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 5.3 Giới thiệu về địa chất tỉnh Đồng Nai Phân loại đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai: có 8 nhóm đất chính - Nhóm đất xám: Là nhóm đất có diện tích lớn nhất: 21,4411ha (chiếm 36.29% DTTN) là đất xám trên phù sa cổ 130956.07% diện tích nhóm đất xám) đất xám trên granit 4232.97% diện tích nhóm đất xám) đất xám kết von 65,299.45% diện tích nhóm đất xám). Đất xám đọng mùn gley 13,922 ha (chiếm 6.49% diện tích nhóm đất xám). Đất xám ở Đồng Nai nói chung là nghèo dưỡng chất (mùn tầng mặt <1.5%, đạm tổng số <0.), lân tổng số từ trung bình thấp đến nghèo 0.08%, kali tổng số 0. Có thành phần cát là chủ yếu, khả năng giữ nước và phân kém; để đạt năng suất khá cần bổ sung thêm nhiều loại phân bón; đặc biệt là chất hữu cơ; do đó, mức đầu tư cho cây trồng trên đất xám sẽ luôn ở mức cao hơn.
Đất xám được phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau; từ những dạng bằng thấp ven hợp thủy, các bậc thềm khá bằng phẳng, các dạng đồi thấp, thoải đến cả địa hình núi cao, dốc; do đó, về không gian đất xám được phân bố ở hầu khắc các huyện trong tỉnh; trong đó, tập trung nhiều ở Vĩnh Cửu, Long Thành và Nhơn Trạch. Hiện tại, nhóm đất xám đang được sử dụng vào các đối tượng như: trồng rừng, cây công nghiệp lâu năm, cây ăn 9 quả, lúa, một phần trồng rau màu và các loại cây hàng năm khác. - Nhóm đất Đen: Có diện tích 120,119.33% DTTN) là đất nâu thẫm trên đá bọt bazan (54,728.56% diện tích nhóm đất đen) đất nâu thẫm trên đá bọt bazan kết von 650,390.44% diện tích nhóm đất đen). Đất đen có độ phì nhiêu khá cao (mùn tổng số 2 - 4%, lân tổng số 0.4%, dung tích hấp thu cao, cấu trúc đoàn lạp, viên hạt tơi xốp, khả năng giữ nước và phân tốt.
Hạn chế lớn nhất của nhóm đất đen là tầng canh tác mỏng, tỷ lệ đá lẫn cao, gây trở ngại cho khâu làm đất và khó có thể trồng cây lâu năm; loại đất này thường thích hợp cho bắp, rau hoa và cây công nghiệp ngắn ngày và một số cây lâu năm như hồ tiêu, cà phê, chuối, cây ăn quả… Nhóm đất đem được phân bố thành vùng khá rộng lớn thuộc các huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Long Khánh, Thống Nhất, Long Thành và Cẩm Mỹ. - Nhóm đất Đỏ vàng: 86,254.60% DTTN) là Đất nâu đỏ trên đá bazan 63,866.04% diện tích nhóm đất đỏ vàng), Đất nâu vàng trên đá bazan 22,388.95% diện tích nhóm đất đỏ vàng). Đất đỏ vàng; đặc biệt là đất đỏ vàng trên bazan có hàm lượng mùn tầng mặt cao (3 – 4 %), đạm tổng số (0.20 %), giàu lân tổng số (0.