CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẦU CỬ VÀ BẦU CỬ ĐIỆN TỬ 1. Giới thiệu chung về bầu cử và bầu cử tại Việt Nam 1. Giới thiệu chung về bầu cử a. Bầu cử là gì Bầu cử là việc lựa chọn một hoặc nhiều người cho một chức vụ công hoặc tư, từ nhiều ứng cử viên khác nhau.
Không chỉ liên quan đến bộ máy nhà nước, bầu cử còn được sử dụng trong tổ chức, hoạt động của các tổ chức xã hội (ví dụ như trong một lớp học, trong một tổ chức công đoàn). Việc bầu cử thành lập cơ quan hoặc một chức danh công quyền được điều chỉnh bởi hiến pháp và pháp luật do nhà nước ban hành. Thông thường Quốc hội (Nghị viện), các cơ quan đại diện của chính quyền địa phương được thành lập bằng cách tổ chức bầu cử. Ở một số nước, các vị trí, cơ quan nhà nước khác như tổng thống, thống đốc tiểu bang, thị trưởng thành phố.
cũng được thành lập thông qua bầu cử. Các cuộc bầu cử định kỳ là phương tiện kiểm soát thiết yếu của công chúng đối với chính quyền. Bầu cử là để khẳng định quyền lực chính trị xuất phát từ nhân dân và buộc các chính trị gia phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về hành vi của mình. Bầu cử là sự lựa chọn (từ gốc tiếng Latinh eligere - lựa chọn).
Thông qua đó các công dân chọn người, chọn đảng để ủy quyền, chọn chính sách để giải quyết các vấn đề của một xã hội, để mang lại hạnh phúc cho cá nhân và cộng đồng. Bầu cử sẽ mất đi ý nghĩa nếu không có sự tự do lựa chọn [2]. Vai trò của bầu cử Bầu cử là phương tiện dân chủ để công dân lựa chọn trong số các ứng cử viên cho vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước và trao quyền cho người được bầu hành động nhân danh công chúng trong nhiệm kỳ được bầu. Chức năng của bầu cử Bầu cử có ý nghĩa quan trọng đối với nhà nước, xã hội và các thành viên của cộng đồng, bởi nó có các chức năng thường được nhắc đến như sau [2]: - Xác định tính chính đáng của các cơ quan quyền lực nhà nước: cho thấy cơ quan nhà nước, vị trí lãnh đạo được người dân ủng hộ; - Giúp người dân thực hiện sự ủy quyền và lựa chọn người cầm quyền: nhân dân, chủ thể của quyền lực trong chế độ dân chủ, ủy quyền cho người mà mình tin tưởng sẽ hoạt động nhằm bảo vệ các lợi ích của mình và xã hội; - Giúp giới tinh hoa, các chính trị gia củng cố quyền lực: người lãnh đạo hợp pháp hóa quyền lực của mình; - Chống lại sự lộng hành của chính quyền: bảo đảm để người không giữ đúng lời hứa, không có năng lực, làm việc kém hoặc tham nhũng sẽ không thể tiếp tục duy trì quyền lực và bị loại khỏi vị trí; - Tạo diễn đàn giữa các khuynh hướng chính trị: các đường lối, chính sách khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, được trình bày, thảo luận; - Truyền thông chính trị: thông tin hai chiều giữa các ứng cử viên và công chúng, các cơ quan nhà nước hiểu thêm về các nhu cầu của cử tri, các vấn đề của xã hội, các giải pháp có thể xem xét lựa chọn.
Thực trạng bầu cử tại Việt Nam a. Bầu cử ở Việt Nam Thuật ngữ bầu cử ở Việt Nam được cho là gắn kết mật thiết với khái niệm dân chủ, trong đó những cuộc bầu cử tự do và công bằng là phương thức bảo đảm cho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ đó. Trong một nền dân chủ, quyền lực của Nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân (người bị quản lý). Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do và công bằng.
Các nguyên tắc bầu cử Luan van 5 Ở Việt Nam, các nguyên tắc bầu cử dân chủ được kế thừa, bổ sung và phát triển để làm một căn cứ thực hiện một chế độ bầu cử mới thực sự dân chủ. Các nguyên tắc bầu cử theo quy định của pháp luật gồm bốn nguyên tắc, đó là [3]: - Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu: đây là nguyên tắc rất quan trọng được khẳng định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội và HĐND các cấp. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho tất cả công dân, không phân biệt thành phần dân tộc, tín ngưỡng, địa vị xã hội, giới tính đều có quyền bầu cử.
- Nguyên tắc bình đẳng: được thể hiện ở một số khía cạnh, như mỗi cử tri không phân biệt đều có số lần bỏ phiếu như nhau, giá trị lá phiếu của mỗi cử tri đều như nhau, số lượng dân cư như nhau thì bầu được số lượng đại biểu bằng nhau. - Nguyên tắc trực tiếp: nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho người dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong lựa chọn người đại biểu. Cụ thể: cử tri được trực tiếp bỏ phiếu vào thùng phiếu mà không qua người trung gian, cử tri cũng trực tiếp lựa chọn người mình bỏ phiếu, không được nhờ người khác bầu hộ, không bầu bằng cách thức gửi thư. - Nguyên tắc bỏ phiếu kín: nguyên tắc này nhằm bảo đảm tôn trọng quyền tự do thể hiện ý chí của cử tri, tạo điều kiện để quá trình lựa chọn của mỗi cử tri không bị tác động, ảnh hưởng của các cá nhân khác hoặc tổ chức.
Giới thiệu về bầu cử truyền thống 1. Mô hình triển khai Hình 1.1: Mô hình triển khai bầu cử truyền thống 1. Ưu nhược điểm của mô hình bầu cử truyền thống a. Ưu điểm - Không lo sợ việc bị hacker tấn công, do sử dụng phiếu bầu bằng giấy.
- Các lá phiếu bằng giấy rất thân thiện và dễ hiểu, vì vậy không đòi hỏi cử tri phải có kiến thức về công nghệ. - Không lo sợ các sự cố về điện hoặc mạng internet trong quá trình diễn ra bầu cử. Nhược điểm - Cần phải in rất nhiều phiếu bầu, gây lãng phí tài nguyên giấy và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. - Tốn thời gian trong việc phát phiếu bầu và ký tên hoặc đóng dấu vào phiếu bầu.
- Phiếu bầu có thể bị giả mạo bằng cách giả mạo chữ ký hoặc làm giả con dấu. - Việc triển khai đến các khu vực vùng sâu vùng xa là rất khó khăn và tốn nhiều chi phí. - Tính an ninh của những lá phiếu trong quá trình vận chuyển và kiểm phiếu chưa thực sự được đảm bảo. - Cần số lượng lớn nhân lực phục vụ cho cuộc bầu cử.
Giới thiệu về bầu cử điện tử 1. Mô hình triển khai Hình 1.2: Mô hình triển khai bầu cử điện tử 1. Ưu nhược điểm của mô hình bầu cử điện tử a. Ưu điểm - Dễ dàng trong việc tổng hợp kết quả.
Bầu cử điện tử có thể cho kết quả trong vài giờ, vài phút hoặc một số hệ thống có thể đưa ra kết quả theo thời gian thực. - Dễ dàng trong việc bầu cử. Cử tri có thể thực hiện bầu cử ở bất kỳ đâu thông qua thiết bị có kết nối internet như máy tính, điện thoại… - Tiết kiệm thời gian. Việc tạo ra số lượng lớn phiếu bầu điện tử chỉ mất một vài phút.
- Cử tri có thể kiểm tra được phiếu bầu của họ đã thành công hay chưa - Giảm thiểu số lượng phiếu bầu không hợp lệ do hệ thống sẽ từ chối những phiếu bầu này. Nhược điểm - Hệ thống máy chủ có thể bị tấn công, cài các phần mềm mã độc để phá hoại kết quả bầu cử. - Cử tri cần có một chút kiến thức về công nghệ. - Cần chuẩn bị các phương án dự phòng về sự cố điện hoặc sự cố mạng internet.
Kết luận chương Chương này đã giới thiệu khái quát về bầu cử nói chung và bầu cử tại Việt Nam nói riêng. Đồng thời, chương cũng đã trình bày mô hình, ưu và nhược điểm của phương pháp bầu cử truyền thống cũng như bầu cử điện tử. Từ đó, là tiền đề để đưa ra đề xuất ứng dụng công nghệ blockchain cho bầu cử điện tử. Phần này sẽ được trình bày chi tiết hơn trong nội dung của chương 2 và chương 3.
Luan van 9 CHƯƠNG 2: BLOCKCHAIN VÀ BẦU CỬ ĐIỆN TỬ 2. Giới thiệu về công nghệ blockchain 2. Khái niệm Blockchain (chuỗi khối), tên ban đầu block chain là một cơ sở dữ liệu phân cấp lưu trữ thông tin trong các khối thông tin được liên kết với nhau bằng mã băm (hash) và mở rộng theo thời gian. Mỗi khối thông tin đều chứa thông tin về thời gian khởi tạo và được liên kết tới khối trước đó, kèm một mã thời gian và dữ liệu giao dịch.
Blockchain được thiết kế để chống lại việc thay đổi của dữ liệu: Một khi dữ liệu đã được mạng lưới chấp nhận thì sẽ không có cách nào thay đổi được nó hoặc phải tốn rất nhiều tài nguyên tính toán. Blockchain được đảm bảo nhờ cách thiết kế sử dụng hệ thống tính toán phân cấp với khả năng chịu lỗi cao. Vì vậy sự đồng thuận phân cấp có thể đạt được nhờ Blockchain. Vì vậy Blockchain phù hợp để ghi lại những sự kiện, hồ sơ y tế, xử lý giao dịch, công chứng, danh tính và chứng minh nguồn gốc.
Việc này có tiềm năng giúp xóa bỏ các hậu quả lớn khi dữ liệu bị thay đổi trong bối cảnh thương mại toàn cầu [4]. Blockchain đầu tiên được phát minh và thiết kế bới Satoshi Nakamoto vào năm 2008 và được hiện thực hóa vào năm sau đó như là một phần cốt lõi của Bitcoin, khi công nghệ blockchain đóng vai trò như là một cuốn sổ cái cho tất cả các giao dịch. Qua việc sử dụng mạng lưới ngang hàng và một hệ thống dữ liệu phân cấp, Bitcoin blockchain được quản lý tự động. Việc phát minh ra blockchain cho Bitcoin đã làm cho nó trở thành loại tiền tệ kỹ thuật số đầu tiên giải quyết được vấn đề double spending (chi tiêu gian lận khi 1 lượng tiền được dùng 2 lần).
Công nghệ này của Bitcoin đã trở thành nguồn cảm hứng cho một loạt các ứng dụng khác[5]. Các loại blockchain Luan van 10 Các loại blockchain có thể chia thành ba loại theo nguyên tắc về quyền đọc ghi dữ liệu và tham gia vào hệ thống: Public (công khai); Private (riêng tư); và Consortium (được phép). Với kiểu public, bất kỳ ai cũng có thể đọc và ghi dữ liệu trên blockchain, ví dụ về các ứng dụng đồng tiền ảo Bitcoin, Ethereum.