ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến trên thế giới. Theo ước tính của WHO năm 2000 trên thế giới đã có khoảng 972 triệu người bị THA chiếm 26,4% dân số, và có tới 7,5 triệu người tử vong do nguyên nhân trực tiếp là tăng huyết áp. Dự báo đến năm 2025 có khoảng 1,56 tỷ người bị THA [62]. Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 17,5 triệu người tử vong do các bệnh về tim mạch.
Trong số các trường hợp mắc bệnh và tử vong do tim mạch hàng năm có khoảng 35% - 40% nguyên nhân do THA [13]. Tại Việt Nam, tỷ lệ THA cũng gia tăng nhanh chóng: Kết quả điều tra dịch tễ học của Viện Tim mạch Trung ương tại 8 tỉnh, thành phố của cả nước năm 2008 cho thấy tỷ lệ người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên bị THA là 25,1% [13]. Theo điều tra quốc gia năm 2015 của Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế ở người trưởng thành từ 18 - 69 tuổi tại 63 tỉnh/thành phố cho thấy tỷ lệ THA là 18,9%. Theo thống kê của Bộ Y tế mỗi năm có khoảng 200.000 người tử vong vì bệnh tim mạch, chiếm 33% ca tử vong.
Theo thống kê của Viện Tim Mạch năm 2015, tỷ lệ THA ở người trưởng thành trong độ tuổi 18- 65 chiếm 25%, vậy cứ 4 người trưởng thành thì có một người THA. THA làm tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ lên gấp 4 lần và tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch lên gấp 3 lần so với người không mắc bệnh. THA là căn bệnh diễn tiến âm thầm, ít có dấu hiệu cảnh báo. Những dấu hiệu của THA thường không đặc hiệu và người bệnh thường không thấy có gì khác biệt với người bình thường cho đến khi xảy ra tai biến.
Vì vậy, THA mà phần lớn không tìm thấy nguyên nhân khoảng 95%, đang trở thành mối đe dọa toàn thể nhân loại bởi nhiều biến chứng nguy hiểm đặc biệt là các bệnh lý về tim mạch như: Nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, suy tim, bệnh mạch vành, NMCT. Thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến. sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Các yếu tố nguy cơ chính gây THA bao gồm béo phì, tiểu đường, hút thuốc, uống rượu, rối loạn lipid máu ngoài chế độ ăn kiêng [18].
Các nghiên cứu khác nhau đã cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa rối loạn lipid máu và THA [19, 52]. Nồng độ lipid và lipoprotein huyết thanh thay đổi được coi là yếu tố nguy cơ có thể thay đổi độc lập đối với THA, có thể được điều chỉnh bằng chế độ ăn uống, thuốc và tập thể dục. THA không được điều trị dễ bị rối loạn lipid máu, các nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng huyết áp với sự gia tăng nồng độ lipid [42]. Các nghiên cứu của Osuji và cộng sự [47], tiết lộ rằng THA không có mô hình đặc hiệu của rối loạn lipid máu và cholesterol toàn phần, triglyceride và tất cả các phân số của lipoprotein có xu hướng bất thường ở bệnh nhân THA hơn so với dân số nói chung.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy nồng độ apoA1 và apoB trong huyết tương và tỷ lệ của chúng là các dấu hiệu sinh hóa nhạy cảm và đặc hiệu hơn đối với nguy cơ mắc bệnh tim mạch so với phép đo lipid và lipoprotein thông thường [43]. Để phòng ngừa các bệnh về THA và tim mạch thì ngoài khuyến cáo của các chuyên gia về giữ lối sống cho phù hợp như: Không ăn mặn, hạn chế bia rượu, mỡ động vật, các thực phẩm chứa nhiều cholesterol, không hút thuốc và thường xuyên vận động thì xét nghiệm các dấu ấn tầm soát đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch trên bệnh nhân THA sẽ giúp cho việc phát hiện chẩn đoán và điều trị kịp thời là vô cùng cần thiết. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều xét nghiệm dùng để khảo sát thăm dò đánh giá bệnh lý về THA và tim mạch như: Triglyceride, cholesterol toàn phần, LDL-c, HDL-c apoB, apoA1. Năm 2006 một nghiên cứu của tác giả G Walldius của Thuỵ Điển [59] kết quả cho thấy tỷ lệ apoB/apoA1 là một yếu tố rủi ro đơn giản chính xác và.
mới đối với bệnh về tim mạch, tỷ lệ apoB/apoA1 càng thấp thì nguy cơ tim mạch càng thấp. Tỷ lệ apoB/apoA1 đã được chứng minh là có liên quan mạnh mẽ đến nguy cơ NMCT theo tác giả S Yusuf [65] vào năm 2004. Tại Việt Nam, năm 2003 một nghiên cứu về giá trị apoB và apoA1 của tác giả Trương Quang Bình và cộng sự [1] kết quả cho thấy apoA1 là một xét nghiệm cần thiết để đánh giá nguy cơ bệnh mạch vành nhất là khi có HDL-c bình thường. Câu hỏi đặt ra là giá trị xét nghiệm của nồng độ apoB, apoA1 và tỷ lệ apoB/apoA1 được xem là dấu ấn hữu hiệu trong việc đánh giá nguy cơ các bệnh lý tim mạch trên bệnh nhân THA? Vì lý do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm góp phần ứng dụng vào lâm sàng trong việc hỗ trợ chẩn đoán, đánh giá nguy cơ tim mạch, và định hướng phát hiện điều trị sớm những nguy cơ bị tim mạch trên bệnh nhân THA.
Mặt khác, phương pháp xét nghiệm là một kỹ thuật không phức tạp, không xâm lấn. Nồng độ apolipoprotein huyết tương ít bị ảnh hưởng bởi các biến sinh học trái ngược với huyết tương mức độ lipid dao động trong các thay đổi trao đổi chất khác nhau [50], do đó các biến ít ảnh hưởng hơn trong các phép đo apoB và apoA1 [30], [53]. MỤC TI U NGHI N CỨU 1. Xác định giá trị tỷ số apoB/apoA1 và lipid, lipoprotein trên bệnh nhân THA và không THA.
Xác định mối tương quan giữa giá trị tỷ số apoB/apoA1 và các giá trị xét nghiệm lipid và lipoprotein trên bệnh nhân THA. Đánh giá vai trò của tỷ số apoB/apoA1 trong đánh giá nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân THA dựa vào thang điểm SCORE. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình THA trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình THA trên thế giới Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, THA ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới và là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mạn tính. Năm 2005, trong số 17,5 triệu người tử vong do các bệnh tim mạch thì THA là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong của 7,1 triệu người. THA là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu (12,7%), cao hơn các nguyên nhân khác như sử dụng thuốc lá (8,7%) hay tăng đường máu (5,8%). Tần suất THA nói chung trên thế giới là khoảng 41% ở các nước phát triển và 32% ở các nước đang phát triển.
Tình hình THA tại Việt Nam Tại Việt Nam, tần suất THA ở người lớn ngày càng gia tăng. Trong những năm 1960 tỷ lệ THA là khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3%. Theo một điều tra gần đây nhất của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn ở độ tuổi ≥ 25 tuổi tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì thấy tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1% nghĩa là cứ 4 người trưởng thành độ tuổi ≥ 25 ở nước ta thì có 1 người bị THA. Với dân số hiện nay của Việt Nam là khoảng 90 triệu dân thì ước tính sẽ có khoảng 11 triệu người bị THA.
Trong số những người bị THA thì có tới 52% khoảng 5,7 triệu người là không biết mình có bị THA; 30% khoảng 1,6 triệu người của những người đã biết bị THA nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị nào; và 64% những người đó khoảng 2,4 triệu người THA đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu. Như vậy hiện nay Việt Nam có khoảng 9,7 triệu người dân hoặc là không biết bị THA, hoặc là THA. nhưng không được điều trị hoặc có điều trị nhưng chưa đưa được số huyết áp về mức bình thường. Khái niệm, phân loại và cơ chế bệnh sinh của THA 1.
Khái niệm về huyết áp và THA Huyết áp Huyết áp là áp lực máu trong động mạch. Khi tim co bóp tống máu áp lực trong động mạch là lớn nhất gọi là HATT. Thời kỳ tim giãn ra, áp lực đó ở mức thấp nhất gọi là HATTr [46]. Tăng huyết áp Quốc tế: Theo WHO và Hội Tăng huyết áp quốc tế (WHO/ISH) định nghĩa, THA là khi có HATT lớn ≥140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg [23].
Việt Nam: Hội Tim Mạch Việt Nam và Phân Hội THA Việt Nam chẩn đoán THA khi đo huyết áp phòng khám có HATT ≥140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg. Phân loại THA Quốc tế: Có nhiều cách phân loại nhưng cho đến nay, cách phân loại của WHO/ISH được sử dụng rộng rãi. Phân loại huyết áp theo Hội tăng huyết áp quốc tế ISH (2020) Khái niệm HATT (mmHg) HATTr (mmHg) HA bình thường < 130 và < 85 Tiền THA 130 – 139 và/hoặc 85 – 89 THA độ I 140 -159 và/hoặc 90 – 99 THA độ II ≥160 và/hoặc ≥100 “Nguồn: Unger T, 2020” [57]. Tại Việt Nam: Theo khuyến cáo chẩn đoán và điều trị THA của Hội Tim mạch học quốc gia năm 2018 theo huyết áp đo tại phòng khám.
Phân loại chẩn đoán điều trị THA Hội tim mạch học quốc gia Việt Nam năm 2018 Khái niệm HATT HATTr (mmHg) (mmHg) Tối ưu <120 Và <80 Huyết áp bình thường < 130 Và < 85 Tiền THA 130 – 139 và/hoặc 85 – 89 THA độ I 140 -159 và/hoặc 90 – 99 THA độ II 160 -179 và/hoặc 100 – 109 THA độ III ≥ 180 và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và < 90 “Nguồn: Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam, 2018” [8] 1. Cơ chế bệnh sinh của THA THA nguyên phát THA nguyên phát chiếm 95% tổng số bệnh nhân THA Tăng hoạt động thần kinh giao cảm: Khi hệ thần kinh giao cảm bị tăng hoạt động sẽ làm tăng hoạt động của tim, dẫn đến tăng cung lượng tim. Mặt khác toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận bị co thắt, làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến hậu quả là THA động mạch. Vai trò của hệ Renin - Angiotensin - Aldosteron: Renin là một enzyme được các tế bào cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có các yếu tố kích thích.