Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ trang phục (trên tư liệu tiếng Việt và tiếng Anh)" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Bùi Thị Oanh, chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu (mã số: 9 22 02 41) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Tất Thắng và TS. Đỗ Thị Hiên.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo tác giả, tiến trình lịch sử và văn minh nhân loại cho thấy trang phục là một tri thức văn hóa, loại hình nghệ thuật phản ánh bản sắc văn hóa, đặc điểm vùng miền, môi trường sống, chế độ chính trị và diện mạo kinh tế của xã hội. Các từ ngữ chỉ trang phục thuộc hạt nhân hệ thống từ vựng trong mọi ngôn ngữ, được con người nhận thức từ sớm, có số lượng lớn, phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc và có sự biến đổi nghĩa phong phú.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ rõ: Việc nghiên cứu trang phục và tên gọi trang phục từ góc độ ngôn ngữ học chưa được quan tâm tương xứng. Phần lớn các công trình trước đây mới chỉ tiếp cận trường trang phục trên một bình diện ngữ nghĩa đơn lẻ như ý nghĩa biểu trưng trang phục trong thơ ca, quan hệ cấp loại hoặc đặc điểm định danh. Việc khảo sát một cách có hệ thống, chuyên sâu và toàn diện trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ trang phục trong tiếng Việt trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Anh vẫn là một khoảng trống nghiên cứu còn bỏ ngỏ, đặc biệt khi hai ngôn ngữ có sự khác biệt về đặc điểm loại hình cũng như bối cảnh kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa và xã hội.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Khảo sát đặc điểm cấu tạo, đặc điểm nguồn gốc và các phương thức định danh của từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh.
- Tìm hiểu đặc điểm văn hóa - dân tộc của các từ ngữ chỉ trang phục thể hiện qua văn hóa trang phục, tư duy liên tưởng và nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ có từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:
- Hệ thống lại những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài luận án.
- Khảo sát đặc điểm cấu tạo, đặc điểm nguồn gốc và các phương thức định danh của từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh.
- Tìm hiểu đặc điểm văn hóa - dân tộc của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: 955 từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và 926 từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Anh - Anh, bao gồm các từ ngữ chỉ tên gọi chỉnh thể trang phục, đồ mặc phần thân trên, đồ mặc phần thân dưới, mũ nón, giày dép và đồ trang sức.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Khảo sát đặc điểm nguồn gốc, cấu tạo, phương thức định danh (giới hạn ở các đơn vị từ ngữ rõ lý do cấu tạo bên trong) và đặc điểm văn hóa - dân tộc của từ ngữ chỉ trang phục trong hai ngôn ngữ.
- Về phạm vi loại trừ: Do giới hạn về dung lượng và thời lượng, luận án không khảo sát các tiểu trường phụ kiện khác, màu sắc trang phục, chất liệu trang phục, bộ phận trang phục, phương thức sản xuất và các hoạt động liên quan đến trang phục, đặc điểm tính chất của trang phục.
- Về ngữ liệu: Khảo sát trên trục đồng đại kết hợp lịch đại, thu thập từ các từ điển đơn ngữ, song ngữ, từ điển thành ngữ - tục ngữ, từ điển biểu tượng, giáo trình, công trình nghiên cứu lịch sử trang phục và các trang mạng thời trang uy tín.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm luận tình hình nghiên cứu từ ngữ chỉ trang phục trên thế giới và tại Việt Nam theo các nhóm khuynh hướng cụ thể:
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Hướng nghiên cứu phương thức cấu tạo từ và từ nguyên học: Công trình của David Kozisek (2011) so sánh các từ đồng nghĩa chỉ quần áo và phụ kiện giữa tiếng Anh - Anh và tiếng Anh - Mỹ (như pants, vest, purse, mackintosh, welling boots), chỉ ra nguồn gốc vay mượn từ tiếng Pháp (suspenders, vest), tiếng Đức (overalls), tiếng Ấn Độ (dungarees) và Pakistan (polo neck).
- Hướng nghiên cứu tiêu chí phân loại từ vựng: Công trình của Volha Murashka và Viktoriya Pasenka (2013) phân loại các đơn vị từ vựng trường quần áo trong tiếng Anh theo giới tính, độ tuổi, mục đích sử dụng, mùa khí hậu, kiểu dáng, cách thức cắt may; xác định hệ thống từ vựng trang phục là hệ thống mở với 52% đơn vị cấu tạo bằng phái sinh hình thái học.
- Hướng nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ của từ ngữ trang phục: Công trình của Zulfiya G. Khanoval (2017) khảo sát 220 đơn vị từ vựng trang phục tiếng Tatar, phân chia thành các tiểu trường (quần áo: 110 đơn vị; mũ nón: 50 đơn vị; giày dép: 50 đơn vị; phụ kiện tay: 10 đơn vị) và xác định các lớp từ mượn Ả Rập - Ba Tư, châu Âu cùng phương thức ghép từ.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
- Từ bình diện văn hóa - nghệ thuật học:
- Đoàn Thị Tình (2006) nghiên cứu trang phục Việt Nam qua các thời kỳ, chỉ ra tính thích nghi môi trường, giá trị sử liệu, chức năng phòng bệnh và sự chọn lọc kiểu thức, màu sắc, hoa văn.
- Trần Quang Đức (2013) nghiên cứu trang phục cung đình và dân gian Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn (1009–1945), miêu tả kiểu dáng và quy chế áo mũ.
- Trần Thủy Bình (2002) trong giáo trình mỹ thuật trang phục trình bày nguồn gốc, chức năng, chủng loại trang phục và lược khảo trang phục phương Tây.
- Nguyễn Thị Bích Hạnh (2016) khảo cứu hoa văn họa tiết "ốc rồng" và "bàn chân" trong thổ cẩm người H'Mông dưới góc độ tâm thức văn hóa bản địa.
- Từ bình diện ngôn ngữ học:
- Về ngữ nghĩa và quan hệ ngữ nghĩa: Lê Thị Hà (1998, 2014) khảo sát mô hình từ ghép và ngữ định danh chỉ y phục, phân tích quan hệ cấp loại (loại - loại) và quan hệ chỉnh thể - bộ phận.
- Về đặc điểm định danh: Lý Toàn Thắng (2009) phân tích định danh trang phục trong câu đố dân gian (chiếm 15% câu đố động vật và 15% câu đố thực vật); Phạm Thị Hồng (2007) đối chiếu định danh trang phục tiếng Nga (ngôn ngữ tổng hợp tính, phụ tố chiếm 68,6%) và tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập, dùng từ chỉ loại kết hợp gốc từ); Hoàng Thị Huệ (2017) phân tích cấu tạo và định danh của 718 thuật ngữ thời trang tiếng Việt.
- Về nghĩa biểu trưng: Nguyễn Thị Ngân Hoa (2007) phân tích các mối quan hệ của hệ biểu tượng trang phục (trang phục - khỏa thân, trang phục - màu sắc, trang phục - thiên nhiên); Trần Thị Hồng Hạnh (2017) tìm hiểu biểu trưng của thành ngữ có từ chỉ trang phục và ẩm thực (Áo vải cơm rau, Giá áo túi cơm).
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án định vị là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện, có hệ thống theo từng tiểu trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ trang phục bằng phương pháp so sánh đối chiếu hai chiều giữa tiếng Việt và tiếng Anh trên các bình diện: cấu tạo từ, nguồn gốc từ nguyên, phương thức định danh và đặc trưng văn hóa - dân tộc (qua lịch sử, tư duy liên tưởng và nghĩa biểu trưng trong thành ngữ, tục ngữ).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa: Luận án tiếp thu hai khuynh hướng nghiên cứu trường nghĩa của L. Trier (tiếp cận từ trường khái niệm) và Ipsen (tiếp cận từ tiêu chí ngôn ngữ học/hình thái). Tác giả vận dụng quan niệm của John Lyons (1977) về sự phân biệt giữa trường từ vựng (lexical field) và trường khái niệm (conceptual field), quan điểm của Laurel (2000) và Đỗ Việt Hùng (2011) về hệ thống quan hệ đồng nhất ngữ nghĩa. Luận án cũng phân biệt trường nghĩa với khung nghĩa (frame semantics của Charles Fillmore, 1975) và mạng từ (WordNet của George Miller và Christiane Fellbaum, 1998). Về phân loại, luận án dựa trên hệ thống trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng (kế thừa từ F. de Saussure).
- Khái niệm trang phục và phân loại tiểu trường: Luận án tổng hợp các định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2010), Collins Dictionary, Oxford Advanced Learner’s Dictionary, Từ điển Hán Việt (1999) để xác định: Trang phục gồm y phục (áo, quần) và phụ trang (mũ nón, giày dép, đồ trang sức). Hệ thống được chia thành 6 tiểu trường: chỉnh thể trang phục, đồ mặc phần thân trên, đồ mặc phần thân dưới, mũ nón, giày dép, đồ trang sức.
- Lý thuyết định danh trong ngôn ngữ: Vận dụng quan điểm của Cônsansky (1976), Geeraerts (2010), Hoàng Văn Hành (1998), Lê Đức Luận (2017) và Gak về cơ chế định danh (gồm quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt; định danh trực tiếp và định danh gián tiếp/thứ cấp). Nghiên cứu đặc trưng văn hóa của định danh dựa trên khái niệm "hình thức bên trong của từ" của Wilhelm von Humboldt (1998) và quan điểm của Nguyễn Đức Tồn (2015).
- Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy: Luận án dựa trên lý thuyết nhân học ngôn ngữ của Edward Sapir và Benjamin Lee Whorf (nguyên lý Sapir - Whorf), luận điểm của Trần Ngọc Thêm (1997), Đinh Văn Đức (2013), Lại Phi Hùng và Nguyễn Đình Hòa (2015) về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa trang phục.
- Lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu: Tiếp cận theo các nguyên tắc miêu tả và đối chiếu của Bùi Mạnh Hùng (2008), 6 phương thức đối chiếu của Lê Quang Thiêm (2008), lý thuyết đối chiếu từ vựng của Laufer (1990) và 3 cấp độ cùng 7 khả năng đối chiếu từ vựng của Robert Lado (1957).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả: Sử dụng xuyên suốt để phân tích cấu tạo, nguồn gốc và phương thức định danh của các đơn vị từ ngữ.
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa:
- Phân tích dọc - ngang nghĩa biểu vật và cấu trúc nghĩa biểu niệm để phân chia và đối chiếu các tiểu trường theo cấp độ tôn ti.
- Phân tích định nghĩa từ điển để xác định nét nghĩa khu biệt và thông tin văn hóa - ngôn ngữ.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Tiến hành đối chiếu hai chiều giữa tiếng Việt và tiếng Anh qua 3 bước: (1) Quy từ ngữ vào tiểu trường phù hợp; (2) Xác định đặc điểm theo hệ thống tiêu chí; (3) Chỉ ra tương đồng, khác biệt và lý giải cơ sở văn hóa - dân tộc.
- Thủ pháp thống kê: Thu thập, phân loại, lập bảng số liệu định lượng về tần số, tỷ lệ phần trăm các kiểu cấu tạo, nguồn gốc và phương thức định danh.
- Phương pháp so sánh - lịch sử: Ứng dụng kết quả từ nguyên học để khảo sát nguồn gốc từ ngữ.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Tư liệu tiếng Việt: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), Từ điển Anh - Việt (Viện Ngôn ngữ học), Từ điển dệt may Anh - Việt, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Hán - Việt tự điển (Thiều Chửu), Từ điển Hán - Việt từ nguyên (Bửu Kế), Từ điển từ nguyên giải nghĩa (Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Huế), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Vũ Dung và nnk; Nguyễn Lân), Từ điển thành ngữ Anh - Việt (Lã Thành và nnk); sách của Trần Thủy Bình, Trần Quang Đức, Đoàn Thị Tình, Nguyễn Thị Thu Huế, Đức Tín.
- Tư liệu tiếng Anh: Oxford Advanced Learner’s Dictionary, An Illustrated Dictionary of Historic Costume (James Robinson Planché), A Dictionary of Costume and Fashion (Mary Brooks Picken), Clothing, Costume and Culture (Sara & Tom Pendergast), Encyclopedic Dictionary of Clothing and Textiles (K. Maitra), Dictionary of Symbols (J.E. Cirlot), English Idioms (Seidle & Mordie), English Idioms in Use (McCarthy & O'Dell), A Book of Proverbs (Josef S. Vershese), The Concise Oxford Dictionary of English Etymology (T.F. Hoad), The Oxford Dictionary of Proverbs, Dictionary of Word Origins (John Ayto).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến từ ngữ chỉ trang phục; làm rõ khung lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa, định danh, ngôn ngữ học đối chiếu và mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa. Luận án xác lập hệ thống phân loại 6 tiểu trường trang phục trên tư liệu khảo sát thực tế gồm 955 đơn vị tiếng Việt và 926 đơn vị tiếng Anh.
Bảng 1.1: Số lượng các tiểu trường chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh
| STT |
Các tiểu trường |
Tiếng Việt (Số lượng) |
Tiếng Anh (Số lượng) |
| 1 |
Chỉnh thể trang phục |
89 |
137 |
| 2 |
Trang phục phần thân trên |
270 |
241 |
| 3 |
Trang phục phần thân dưới |
145 |
158 |
| 4 |
Đồ đội trên đầu (mũ nón) |
167 |
160 |
| 5 |
Đồ đi dưới chân (giày dép) |
122 |
112 |
| 6 |
Đồ trang sức |
162 |
118 |
| Tổng |
Các tiểu trường |
955 |
926 |
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc và phương thức định danh của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 2 phân tích chi tiết ba phương diện ngôn ngữ học của ngữ liệu khảo sát:
1. Đặc điểm cấu tạo
- Tiếng Việt (955 đơn vị):
- Từ đơn gồm 143 từ (chiếm 14,9%), là các từ một âm tiết (quần, áo, mũ, nón, giày, dép).
- Từ ghép và cụm từ gồm 812 đơn vị (chiếm 85,1%), trong đó chủ yếu là từ ghép chính phụ phân nghĩa theo mô hình AB (A: yếu tố chỉ loại; B: thành tố phụ phân loại). Các biến thể mô hình gồm: Yếu tố chỉ loại + Danh từ/Cụm danh từ (áo bông, áo gió, quần vải); Yếu tố chỉ loại + Động từ (áo bơi, áo bay, quần lót, giày chạy); Yếu tố chỉ loại + Tính từ (áo chẽn, áo cộc, áo dài, mũ mát).
- Từ ghép đẳng lập chiếm 25 từ (1,7%), gồm các từ Hán - Việt chỉ chỉnh thể (trang phục, y phục, quốc phục, lễ phục, tế phục, phẩm phục, quân phục).
- Cụm từ cố định chiếm 18 đơn vị (1,9%) như áo giữ nhiệt, áo ngực có gọng, dép Bác Hồ, dép Bình Trị Thiên.
- Tiếng Anh (926 đơn vị):
- Từ đơn gồm 345 từ (chiếm 37,3%), tập trung nhiều nhất ở trang phục thân trên với 85 từ (jacket, bolero, reefer, jerkin, anorak, blazer, jumper, coat, gilet, corset, chemise, camisole) và chỉnh thể trang phục với 37 từ (apparel, attire, clothing, clothes, togs, vesture, costume, garment).
- Từ ghép gồm 553 từ (chiếm 59,8%), cấu tạo theo các mô hình: Danh từ + Danh từ (beach jacket, bath robe, catsuit, pencil skirt); Tính từ + Danh từ (collarless jacket, hot pants, peakless hat); Danh động từ (V-ing) + Danh từ (riding jacket, jogging bra, training shoes); Phân từ 2 (V-ed) + Danh từ (armoured jacket, belted jacket, gored skirt).
- Từ phái sinh gồm 28 từ (chiếm 2,9% - 3,0%), cấu tạo bằng phụ tố (whitish, brownish, overalls, combinations, jewellery, sleeper, topper, fascinator, overcoat, overshoes).
Bảng 2.1: So sánh đặc điểm cấu tạo của các tiểu trường chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh
| STT |
Tiểu trường |
Tiếng Việt: Từ đơn (SL / %) |
Tiếng Việt: Ghép & Cụm từ (SL / %) |
Tiếng Anh: Từ đơn (SL / %) |
Tiếng Anh: Ghép & Cụm từ (SL / %) |
Tiếng Anh: Phái sinh (SL / %) |
| 1 |
Chỉnh thể trang phục |
1 (0,1%) |
88 (9,2%) |
37 (4,0%) |
97 (10,5%) |
3 (0,3%) |
| 2 |
Thân trên |
40 (4,2%) |
230 (24,1%) |
85 (9,2%) |
154 (16,6%) |
2 (0,2%) |
| 3 |
Thân dưới |
7 (0,7%) |
138 (14,5%) |
51 (5,5%) |
98 (10,6%) |
9 (1,0%) |
| 4 |
Mũ nón |
13 (1,4%) |
154 (16,1%) |
58 (6,3%) |
96 (10,4%) |
6 (0,6%) |
| 5 |
Giày dép |
15 (1,6%) |
107 (11,2%) |
46 (5,0%) |
63 (6,8%) |
3 (0,3%) |
| 6 |
Đồ trang sức |
67 (7,0%) |
95 (10,0%) |
68 (7,3%) |
45 (4,9%) |
5 (0,5%) |
| Tổng |
Các tiểu trường |
143 (14,9%) |
812 (85,1%) |
345 (37,3%) |
553 (59,8%) |
28 (2,9%) |
Sự khác biệt về cấu tạo phản ánh đặc trưng loại hình: Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính, không biến hình nên sử dụng phương thức ghép chính phụ phân tích tính để tăng tính rõ lý do; tiếng Anh là ngôn ngữ hòa kết phân tích tính, kết hợp cả từ đơn hòa kết, từ ghép và từ phái sinh biến đổi hình thái.
2. Đặc điểm nguồn gốc
- Tiếng Việt (955 đơn vị):
- Từ thuần Việt: 594 từ (chiếm 62,2%).
- Từ mượn tiếng Hán: 295 từ (chiếm 30,9%), phân bố nhiều nhất ở mũ nón (92 từ: quan, mão, lạp, mâu, điệt, khôi, triều thiên lạp), đồ trang sức (84 từ: cù, đang, quắc, tỏa, chỉ hoàn, nhĩ hoàn, các loại ngọc như bích, cẩn, dao, tuyền), áo (74 từ: y, bào, sam, chẩn, giáp y, sấn, hãn nhu, thụ, hạt), giày dép (12 từ: cược, hài, hia, kịch, lũ, lý, phỉ), và ít nhất ở thân dưới (4 từ: quần, côn, khố, thường).
- Từ mượn tiếng Pháp/tiếng Anh (Ấn - Âu): 66 từ (chiếm 6,9%), gồm dạng phiên âm (áo sơ mi, áo măng tô, áo vestông, quần xi líp, dép xăng đan) và dạng vay mượn nguyên dạng (cardigan, jacket, bomber, skinny, legging, sneaker).
- Tiếng Anh (926 đơn vị):
- Từ thuần Anh: 806 từ (chiếm 87,0%).
- Từ vay mượn: 120 từ (chiếm 13,0%), trong đó gốc Pháp chiếm ưu thế với 86 từ (9,3%, chủ yếu là đồ trang sức và thời trang cao cấp), ngoài ra có từ gốc Đức (spike heels), Ấn Độ (dungarees), Pakistan (polo neck).
3. Phương thức định danh
Luận án khảo sát các cơ sở lựa chọn đặc trưng khu biệt trong 6 tiểu trường dựa trên hình thái bên trong: đặc trưng chất liệu, hình dáng, chức năng/công dụng, cách thức sử dụng, vị trí trên cơ thể, đối tượng sử dụng, nguồn gốc xuất xứ. Kết quả cho thấy tiếng Việt ưu tiên định danh bằng cách chỉ rõ chủng loại kết hợp đặc trưng cụ thể hóa đời sống thường nhật, trong khi tiếng Anh có sự đa dạng giữa định danh cấu trúc và định danh phái sinh trực tiếp.
Chương 3: Đặc điểm văn hóa - dân tộc của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 3 đi sâu phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa dân tộc qua ba khía cạnh:
- Qua các thời kỳ lịch sử: Phân tích sự biến đổi của tên gọi trang phục theo tiến trình lịch sử xã hội: Dấu ấn văn hóa Nho giáo thời phong kiến và ảnh hưởng phương Tây thời thuộc địa tại Việt Nam; sự biến đổi trang phục quý tộc và thời kỳ công nghiệp hóa tại Anh.
- Qua tư duy liên tưởng trong định danh: Người Việt gắn liền tư duy liên tưởng với nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, tận dụng chất liệu tự nhiên và hình ảnh quen thuộc để gọi tên trang phục (mũ tai bèo, nón lá cọ, nón thúng, dép rọ, dép tổ ong, kiềng). Ngược lại, tư duy liên tưởng của người Anh gắn với môi trường công nghiệp, hàng hải, đô thị và văn hóa thương mại phương Tây.
- Qua nghĩa biểu trưng trong thành ngữ, tục ngữ: Khảo sát các hướng biểu trưng chính:
- Giá trị đạo đức xã hội: Trong tiếng Việt, các đơn vị như Áo vải cơm rau biểu trưng cho sự thanh bạch, giản dị; Giá áo túi cơm biểu trưng cho kẻ bất tài, vô dụng. Trong tiếng Anh, thành ngữ phản ánh các chuẩn mực ứng xử và đạo đức phương Tây.
- Đẳng cấp xã hội: Tên gọi trang phục gấm vóc, lụa là, áo cẩm bào đối lập với áo vải thô, khố rách để biểu thị phân tầng giai cấp.
- Giới tính và hình ảnh người phụ nữ: Phản ánh định kiến giới, thiên chức và vị thế xã hội của phụ nữ trong hai nền văn hóa qua các biểu trưng trang phục truyền thống.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Củng cố và bổ sung cơ sở lý luận về lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa trong việc phân loại và miêu tả hệ thống từ vựng chuyên ngành đời sống.
- Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa bộ ba ngôn ngữ - văn hóa - tư duy thông qua việc phân tích cách thức định danh và nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ trang phục.
- Cung cấp khung thao tác đối chiếu hai chiều có tính hệ thống cho các nghiên cứu đối chiếu từ vựng - ngữ nghĩa giữa một ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt) và một ngôn ngữ hòa kết (tiếng Anh).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án là công trình đầu tiên thống kê và phân loại có hệ thống 955 từ ngữ trang phục tiếng Việt và 926 từ ngữ trang phục tiếng Anh thành 6 tiểu trường chi tiết.
- Cung cấp nguồn ngữ liệu đối chiếu có giá trị phục vụ công tác biên soạn từ điển song ngữ Việt - Anh, Anh - Việt nói chung và từ điển chuyên ngành trang phục - thời trang nói riêng.
- Hỗ trợ công tác biên soạn giáo trình giảng dạy từ vựng học tiếng Việt, giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, giáo trình tiếng Anh chuyên ngành dệt may - thời trang, cũng như các tài liệu tham khảo cho ngành văn hóa học và nhân học ngôn ngữ.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Cần cập nhật kịp thời các từ ngữ chỉ trang phục mới du nhập từ quá trình hội nhập quốc tế vào hệ thống từ điển đơn ngữ và song ngữ tiếng Việt.
- Ứng dụng phương pháp giảng dạy từ vựng theo trường nghĩa và chủ điểm văn hóa trang phục để nâng cao hiệu quả đào tạo ngôn ngữ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo xác định từ phạm vi của luận án:
- Hạn chế: Luận án chưa thể bao quát toàn bộ các tiểu trường liên quan gián tiếp đến trang phục như: phụ kiện mở rộng, màu sắc trang phục, chất liệu dệt may, chi tiết bộ phận trang phục, kỹ thuật sản xuất cắt may và các động từ/hoạt động liên quan đến trang phục. Về mặt định danh, luận án chỉ tập trung vào các đơn vị từ ngữ rõ lý do cấu tạo bên trong, chưa khảo sát sâu nhóm từ đơn không rõ lý do hoặc các cụm từ tự do.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát các tiểu trường ngoại vi còn lại (chất liệu, màu sắc, kỹ thuật may mặc) và mở rộng phạm vi đối chiếu từ ngữ chỉ trang phục sang các biến thể ngôn ngữ khác (như tiếng Anh - Mỹ, tiếng Anh - Úc) hoặc các ngôn ngữ thuộc các loại hình khác.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo quy trình phân tích thành tố nghĩa, phương pháp lập bảng đối chiếu trường từ vựng và khung lý thuyết định danh ngôn ngữ học đối chiếu.
- Nhà nghiên cứu Văn hóa học và Nhân học: Tham khảo các cứ liệu ngôn ngữ phản ánh lịch sử trang phục, tư duy liên tưởng nông nghiệp của người Việt và dấu ấn văn hóa Nho giáo thời phong kiến qua lớp từ mượn Hán - Việt.
- Biên tập viên, chuyên gia biên soạn từ điển và dịch giả: Sử dụng hệ thống 1.881 đơn vị ngữ liệu đối chiếu Việt - Anh đã được phân loại theo 6 tiểu trường để chuẩn hóa thuật ngữ trang phục và giải mã các thành ngữ, tục ngữ biểu trưng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia trường từ vựng chỉ trang phục thành những tiểu trường nào và tiểu trường nào chiếm số lượng lớn nhất?
Luận án phân chia trường từ vựng chỉ trang phục thành 6 tiểu trường: (1) Chỉnh thể trang phục, (2) Trang phục phần thân trên, (3) Trang phục phần thân dưới, (4) Đồ đội trên đầu (mũ nón), (5) Đồ đi dưới chân (giày dép), (6) Đồ trang sức. Trong cả hai ngôn ngữ, tiểu trường trang phục phần thân trên chiếm số lượng lớn nhất (tiếng Việt: 270/955 từ; tiếng Anh: 241/926 từ), phản ánh vai trò là trang phục cốt lõi của con người.
2. Tỷ lệ cấu tạo giữa từ đơn và từ ghép chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh khác biệt ra sao?
Trong tiếng Việt, từ ghép và cụm từ chiếm ưu thế tuyệt đối với 85,1% (812/955 đơn vị, chủ yếu là ghép chính phụ), từ đơn chỉ chiếm 14,9% (143 từ). Trong tiếng Anh, từ ghép chiếm 59,8% (553/926 đơn vị), từ đơn chiếm tỷ lệ đáng kể 37,3% (345 từ), và từ phái sinh chiếm 2,9% (28 từ). Điều này phản ánh đặc trưng của tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập - phân tích tính, trong khi tiếng Anh là ngôn ngữ hòa kết - phân tích tính.
3. Lớp từ mượn tiếng Hán chỉ trang phục trong tiếng Việt phân bố như thế nào và phản ánh điều gì?
Lớp từ mượn tiếng Hán gồm 295 từ (chiếm 30,9% tổng số từ tiếng Việt), tập trung nhiều nhất ở tiểu trường mũ nón (92 từ) và đồ trang sức (84 từ), áo (74 từ), trong khi trang phục thân dưới chỉ có 4 từ (quần, côn, khố, thường). Phân bố này phản ánh ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo và lễ chế phong kiến phương Bắc đối với quan phục, mũ miện, trang sức triều đình, đồng thời việc bảo tồn váy truyền thống (hạn chế từ mượn chỉ thân dưới) thể hiện ý thức gìn giữ văn hóa dân tộc.
4. Luận án dựa trên cơ sở nào để phân tích cơ chế định danh tên gọi trang phục?
Luận án căn cứ vào lý thuyết hình thái bên trong của từ (Wilhelm von Humboldt, Nguyễn Đức Tồn) và cơ chế quy loại - chọn đặc trưng khu biệt (Gak, Geeraerts). Khảo sát tập trung vào các từ ngữ rõ lý do cấu tạo để xác định các đặc trưng được chọn làm cơ sở đặt tên như chất liệu, hình dáng, công dụng/chức năng, vị trí, nguồn gốc xuất xứ và người sử dụng.
5. Những hướng biểu trưng nào của thành ngữ, tục ngữ chỉ trang phục được khảo sát?
Luận án khảo sát ba hướng nghĩa biểu trưng chính trong thành ngữ, tục ngữ hai ngôn ngữ: (1) Biểu trưng cho giá trị đạo đức xã hội (như tính thanh bạch qua Áo vải cơm rau, sự vô dụng qua Giá áo túi cơm); (2) Biểu trưng cho đẳng cấp và phân tầng xã hội (sự đối lập giữa lụa là, cẩm bào và áo vải thô, khố rách); (3) Biểu trưng cho giới tính và thân phận người phụ nữ.
Kết luận
Luận án của tác giả Bùi Thị Oanh là công trình nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ học chuyên sâu, khảo sát có hệ thống 955 đơn vị từ ngữ tiếng Việt và 926 đơn vị từ ngữ tiếng Anh thuộc 6 tiểu trường trang phục. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ sự chi phối của đặc điểm loại hình ngôn ngữ (đơn lập phân tích tính đối lập với hòa kết phân tích tính) lên cấu tạo và định danh từ vựng. Đồng thời, công trình chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa dân tộc thông qua các lớp từ nguyên lịch sử, tư duy liên tưởng nông nghiệp/công nghiệp và hệ thống biểu trưng trong thành ngữ, tục ngữ của hai dân tộc.