Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài Chương 2: Đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc và các phương thức định danh của từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh Chương 3: Đặc điểm văn hóa - dân tộc của các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục trên thế giới và ở Việt Nam cũng như điểm luận một số vấn đề lí thuyết liên quan trực tiếp đến đề tài như các lí thuyết về so sánh đối chiếu, trường từ vựng - ngữ nghĩa, định danh và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục trên thế giới Trên thế giới, việc nghiên cứu trang phục chủ yếu được tiếp cận từ góc độ văn hóa và lịch sử.
Hầu như chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về trường nghĩa chỉ trang phục từ bình diện ngôn ngữ học mà phần lớn mới tiếp cận chúng từ một xu hướng nghiên cứu như: phương thức cấu tạo từ và từ nguyên học, tiêu chí phân loại và đặc trưng ngôn ngữ dân tộc. Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu phương thức cấu tạo từ và từ nguyên học liên quan đến từ đồng nghĩa trong tiếng Anh của người Anh và tiếng Anh của người Mỹ phải kể đến công trình của David Kozisek (2011) với một số phát hiện sau: Có một số từ đồng nghĩa chỉ quần áo và phụ kiện được sử dụng trong cả tiếng Anh - Anh và Anh - Mỹ nhưng chúng lại biểu thị những khái niệm khác nhau và điều này đôi khi dẫn đến những hiểu lầm, nhầm lẫn đáng tiếc trong hai ngôn ngữ. Chẳng hạn như từ “pants” và “vest” đều dùng để chỉ đồ lót trong tiếng Anh - Anh; từ “purse” trong tiếng Anh - Mỹ đã được chuyển từ ý nghĩa ban đầu (túi nhỏ để mang đồng xu, nghĩa này vẫn được sử dụng trong tiếng Anh - Anh) và được sử dụng như từ đồng nghĩa với từ “handbag” chỉ túi xách của nữ; từ “mackintosh” và “welling boots” trong tiếng Anh - Anh (có nguồn gốc từ tên gọi của nhà phát minh) mang ý nghĩa giống từ “raincoat” (áo mưa) và “rubber boots” (ủng/bốt cao su) trong tiếng Anh - Mỹ song người Mỹ lại hoàn toàn không biết đến những từ này; Phần lớn các từ ngữ chỉ trang phục của người Mỹ và người Anh có nguồn gốc từ tiếng Pháp như “suspenders, turtle neck, underpants, vest”. và tiếng Đức như “spike heels, overalls, undershirt”.
song trong tiếng Anh - Anh có một số từ ngữ chỉ trang 9 phục được du nhập vào nước Anh trong thời kì thuộc địa có nguồn gốc từ Ấn Độ như: “dungarees” (đặt tên theo một phần của thành phố Bombay, Ấn Độ) và Pakistan như: “polo neck”. Như vậy có thể thấy công trình này mới chỉ tập trung vào đặc điểm nguồn gốc của các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh - Anh và tiếng Anh - Mỹ. Các đặc điểm nổi bật khác như định danh và đặc điểm văn hoá - dân tộc không phải là đối tượng nghiên cứu của đề tài. Xu hướng thứ hai: Nghiên cứu từ ngữ chỉ trang phục từ góc độ nghiên cứu tiêu chí phân loại.
Đại diện cho xu hướng này là công trình: “Lexical categorization of language units of the sphere “clothes” in the English language” của hai tác giả Volha Murashka &Viktoriya Pasenka (2013). Cho rằng tiêu chí chính trong phân loại từ vựng là phải dựa vào kinh nghiệm cá nhân bởi lẽ trong quá trình nhận thức thế giới khách quan, kinh nghiệm của mỗi người giúp hình thành các phạm trù phân loại trong tư tưởng họ trước tiên, Volha Murashka &Viktoriya Pasenka (2013) đã tiến hành phân loại các từ ngữ chỉ trang phục thành những nhóm khác nhau dựa theo các tiêu chí như: + Giới tính (female, male, girls’, women’s, men’s, maternity.); + Tuổi tác (baby clothes, teenager clothes, clothes for middle-aged people, clothes for elderly people.); + Mục đích sử dụng (everyday clothes, sports clothes, uniform.) + Mùa khí hậu (summer clothes, winter clothes, autumn-spring clothes); + Kiểu dáng (classic/traditional clothes, folk style clothes, romantic clothes, sports style clothes.); + Cách thức cắt may (draped clothes, sewed clothes. Dựa trên dữ liệu phân tích, hai tác giả đã rút ra các kết luận dưới đây: Nhóm từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Anh là một hệ thống mở và vẫn không ngừng phát triển và để phân loại chúng cần phải dựa vào những đặc điểm tri nhận khác nhau của từng dân tộc cũng như kinh nghiệm cá nhân. Những đặc điểm đó mang bản sắc văn hóa và không giống nhau giữa các vùng miền; 10 Các tên gọi mới chỉ trang phục chủ yếu được hình thành dựa trên những tên gọi có sẵn trong tiếng Anh.
Điều đó có nghĩa là định danh phái sinh diễn ra thường xuyên hơn định danh trực tiếp (52% các từ chỉ tên gọi trang phục được cấu tạo bằng hình thức phái sinh hình thái học chủ yếu từ động từ, tính từ và danh từ). Qua đây, chúng tôi thấy rằng tiêu chí phân loại này chủ yếu áp dụng với trường biểu vật. Việc tìm hiểu từ ngữ chỉ trang phục qua trường liên tưởng trên cơ sở so sánh đối chiếu với các ngôn ngữ khác còn bỏ ngỏ. Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu về đặc trưng ngôn ngữ của các từ ngữ chỉ trang phục.
Đại diện cho xu hướng này là tác phẩm của Zulfiya G.Khanoval (2017) với đề tài: “Linguistic features of clothing terminology in Tatar language”. Bằng việc sử dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa định lượng và phương pháp miêu tả, tác giả đã chia 220 đơn vị từ vựng chỉ trang phục thu thập được từ các cuốn từ điển tiếng Tatar và từ điển nguyên học thành các tiểu trường như: tên gọi quần áo (gồm 110 đơn vị), tên gọi phụ trang đội đầu như mũ nón (gồm 50 đơn vị), tên gọi giày dép và các bộ phận của chúng (gồm 50 đơn vị), tên gọi phụ kiện mang trên tay (gồm 10 đơn vị). Kết quả nghiên cứu cho thấy: Ngoài các từ có nguồn gốc từ tiếng Tatar, các từ ngữ chỉ trang phục trong tiếng Tatar còn có nguồn gốc từ tiếng Ả rập – Ba Tư như “chalbar, ihram”.và ngôn ngữ Châu Âu như “scarf, beret, vest, camisole, mantle, coat, skirt, tights, pants”.; Tên gọi trang phục tiếng Tatar chủ yếu được cấu tạo bằng phương thức ghép. Như vậy, điểm khác biệt với các công trình nghiên cứu ở trên là tác giả đã tập trung tìm hiểu đặc điểm nguồn gốc và cấu tạo của các từ ngữ chỉ trang phục theo từng tiểu trường của một loại hình ngôn ngữ.
Tuy nhiên, các đặc trưng văn hoá - dân tộc thể hiện tư duy liên tưởng trong sự so sánh đối chiếu với ngôn ngữ khác cũng vẫn là một hướng đi mới cần được tiếp cận. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục ở Việt Nam Có thể thấy từ ngữ chỉ trang phục được các nhà nghiên cứu trong nước tiếp cận chủ yếu từ hai phương diện chính: văn hóa - nghệ thuật học và ngôn ngữ học. 11 Nghiên cứu trang phục được các nhà văn hóa học hay nghệ thuật học đặc biệt chú ý như các công trình [1], [11], [19], [41]. Vấn đề về trang phục từ truyền thống đến hiện đại hiện được coi là những biểu hiện của đời sống văn hóa và thẩm mỹ của mỗi cộng đồng dân tộc.
Nghiên cứu về trang phục của người Việt qua các thời kì để thấy được sự tiếp nối giữa truyền thống và hiện đại cũng như tính dân tộc và tính quốc tế trong bối cảnh giao lưu văn hóa đa dạng và thường xuyên là đối tượng nghiên cứu chính của tác giả Đoàn Thị Tình (2006) với đề tài: “Trang phục Việt Nam qua các thời kì (Vietnamese costume through the ages)”. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thông qua cái nhìn lịch đại kết hợp với đồng đại có thể thấy trang phục người Việt vừa giản dị, đơn sơ vừa có tính thích nghi cao với môi trường khắc nghiệt của thiên nhiên; Trang phục người Việt có giá trị sử liệu và có chức năng phòng bệnh; Trang phục của người Việt có sự chọn lọc về hình dáng, kiểu thức, màu sắc, chất liệu, hoa văn trang trí. Cùng cách thức tiếp cận từ bình diện văn hoá học, thông qua việc tìm hiểu trang phục cung đình Việt từ triều Lý tới triều Nguyễn (1009-1945), Trần Quang Đức (2013) đã miêu tả cụ thể kiểu dáng, quy chế của các loại áo mũ từng được sử dụng phổ biến trong cung đình và dân gian Việt Nam ở những thời kì này. Những nét rất khái quát về trang phục như nguồn gốc và chức năng của quần áo, khái niệm trang phục và hệ thống các chủng loại trang phục được trình bày một cách khá chi tiết và đầy đủ trong “Giáo trình Mỹ thuật Trang phục” của Trần Thủy Bình (2002).
Đặc biệt là một lược khảo về trang phục phương Tây qua các thời đại cũng được thể hiện trong khảo cứu. Nghiên cứu về họa tiết “ốc rồng” và họa tiết “bàn chân” trong thổ cẩm người H‟Mông có đề tài về hoa văn trang trí vải của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2016). Qua ngữ liệu nghiên cứu có thể thấy những dạng họa tiết mang tính biểu tượng đa nghĩa trong nghệ thuật tạo hình trên vải của dân tộc này đã bước đầu lý giải sự xuất hiện của chúng trên nền yếu tố tâm thức văn hóa bản địa và lịch sử phát triển tộc người. Trong ngôn ngữ học, việc nghiên cứu các từ ngữ chỉ trang phục chưa được chú trọng nhiều, chủ yếu theo ba xu hướng sau: 12 Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu từ ngữ chỉ trang phục từ góc độ ngữ nghĩa hoặc quan hệ về nghĩa.
Đại diện tiêu biểu cho xu hướng này là tác giả Lê Thị Hà (1998) với công trình: “Mô hình các từ ghép và ngữ định danh chỉ y phục của tiếng Việt xét về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa”. Có lẽ, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về từ ngữ chỉ trang phục đi sâu vào nghiên cứu quan hệ cấp loại và quan hệ toàn bộ - bộ phận trong các từ ghép chính phụ phân nghĩa chỉ y phục. Lê Thị Hà (2014) đã tiến hành phân chia các từ trong trường trang phục theo quan hệ cấp loại và đưa ra nhận định như sau: “Hai quan hệ phân loại loại - loại và phân loại chính thể - bộ phận luôn đan chéo vào nhau và không một loại quan hệ nào đi suốt quá trình phân chia cấp loại từ bậc một cho đến bậc tận cùng.