CHƯƠNG 1 TRUYỀN THÔNG TRONG HỆ ĐIỀU KHIỂN CHUYỂN ĐỘNG 1. Khái quát chung về hệ điều khiển chuyển động. Ở giai đoạn đầu phát triển của máy móc, việc điều khiển vị trí và vận tốc được thực hiện bằng những giải pháp tốn kém, phức tạp và tốn thời gian, như một chuỗi các Cam, các bánh răng (Gear), …và những thiết bị tương tự. Các thiết bị khác như các xy lanh thuỷ lực và khí, pít tông, quận dây điện từ, phanh,…luôn được thêm vào những hệ thống này.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ máy tính và vi xử lư, các hệ điều khiển chuyển động đă trở nên linh hoạt và tiện lợi hơn. Với hệ điều khiển chuyển động có thể lập tnh, ta có thể thay đổi vận tốc hay vị trí của cơ cấu chỉ bằng một vài ng lệnh hoặc bằng cách chọn các thuật toán đă có sẵn trong bộ nhớ của hệ thống. Các thành phần của một hệ điều khiển chuyển động về cơ bản gồm những phần tử như H́nh 1.1 Các phần tử tiêu biểu của môt hệ điều khiển chuyển động. Bộ điều khiển (Controller) sẽ chứa một chuỗi các lệnh được mă hoá (các lệnh để điều khiển chuyển động), khi được thực hiện nó sẽ tạo ra một loạt các xung điện hoặc tín hiệu tương tự ở đầu ra của bộ điều khiển.
Các tín hiệu này sẽ được cấp cho bộ khuếch đại (Amplifier) và được nó khuyếch đại lên cho phù hợp với cơ cấu chấp hành (Actuator). Cơ cấu chấp hành thực hiển các chuyển động yêu cầu. Phần tử - 12 - cuối cùng là thiết bị phản hồi (Feedback) – cung cấp tín hiệu phản hồi cho bộ điều khiển (Controller). Nhiều hệ điều khiển chuyển động được tích hợp thành một hệ lớn.
Các loại thiết bị dựa trên máy tính, như các bộ điều khiển có thể lập tnh, các máy tính công nghiệp, các máy tính lớn ở xa để liên kết và điều phối các chức năng chuyển động cùng các chức năng khác. Thêm vào, giao diện hoạt động (Operator interface) để thay đổi chương tnh; cung cấp các sửa đổi thời gian thực như tắt hệ thống, các thay đổi kế hoạch, …Do đó, một hệ thống điều khiển chuyển động tích hợp thêm một số phần có cấu h́nh như H́ nh 1.2 Operator Host Controller Amplifier Actuator Feedback Interface H́ nh 1. Cấu h́ nh của hệ điều khiển chuyển động. Tổng quan về các kiều khác nhau của hệ điều khiển chuyển động được mô tả như ở H́nh 1.
Khái niệm bộ điều khiển và bộ khuếch đại (Controller và Amplier) được sử dụng ở đây được hiểu rất rộng. Ví dụ: Một bộ điều khiển có thể chỉ gồm thiết bị đơn giản để thực hiện việc đóng cắt một động cơ quạt nhỏ khi phát hiện ra có khói. Nếu động cơ này cần 1 transistor để cấp nguồn th́ ta có thể nói hệ thống có 1 bộ khuếch đại. Vậy những khối của hệ điều khiển chuyển động này là: động cơ (Cơ cấu chấp hành), transistor (Bộ khuếch đại), cảm biến phát hiện khói (sensor - Phản hồi).
Có khi bộ điều khiển được thiết kế cho những mục đích rơ ràng như: Điều khiển số dựa trên máy tính, rô bốt công nghiệp, cắt và hàn bằng laser,…Host thực hiện các chức - 13 - năng điều khiển cấp cao hơn như: tính toán tốc độ cao, phối hợp chuyển động. Một bộ điều khiển có chức năng của host gọi là host controller. Bộ khuyếch đại có thể được phân loại dựa trên đặc tính đầu ra của nó. Một vài kiều tiêu biểu là: DC Amplifier , Brushless DC, Brushless AC,.
Cơ cấu chấp hành có thể là: Động cơ 1 chiều có chổi than, động cơ bước, Servovalve, …. Các kiều khác nhau của hệ điều khiển chuyển Thiết bị phản hồi có động. thể là: Encoder, Resolver… Tuỳ theo nhà sản xuất mà các bộ phận trên có thể đứng rời hay được gộp vào trong một khối. Ví dụ như: Khối Host, Controller, Amplier có thể nằm chung thành một khối.
Các giải pháp truyền thông cho hệ điều khiển chuyển động.1 Phương pháp truyền thông truyền thống dùng cho hệ điều khiển chuyển động. Điều khiển chuyển động nhiều trục truyền thống sử dụng các bộ điều khiển chuyển động, dựa trên PC hay một nh, cho từng trục. Giữa các trục có mối liện hệ với nhau theo một quy luật nhất định.1 Cấu trúc truyền thông của hệ điều khiển chuyển động truyền thống. Việc tạo ra quỹ đạo và thuật toán điều khiển vị trí được thực hiện trên một bục phần cứng đơn lẻ.1 ở trên thể hiện cấu trúc của hệ điều khiển chuyển động gồm hai hoặc nhiều trục.
Các drive được sử dụng ở trên có thể là số hoặc tương tự, và có thể hoạt động ở mode vận tốc hoặc mode mô men. Tín hiệu điều khiển ở trên được gửi từ Controller đến các Driver là các tín hiệu ng (4-20mA) hay áp (0-10V). Tín hiệu phản hồi là các tín hiệu vị trí được lấy từ encoder, resolver,… Với hệ điều khiển chuyển động như trên th́ có một số nhược điểm như sau: • Về mặt dây dẫn: Tất cả các dây dẫn phản hồi cần quay về bộ điều khiển (Controller). V́ động cơ phải gắn trên máy, Controller và Driver gắn gần nhau ở bảng điều khiển nên tín hiệu phản hồi nhỏ phải truyền tượng đối xa.
Điều này dẫn đến sự suy giảm tín hiệu. Hơn nữa các tín hiệu sử dụng ở đây là ng hoặc áp th́ rất bị nhiễu và làm ảnh hưởng đến độ chính xác. • Về mặt phức tạp: Việc thêm trục chuyển động là rất khó và đôi khi là không thể với bục phần cứng cố định • Về mặt giám sát: Giao diện từ Controller đến Drive không cung cấp khả năng giám sát các thông số, các lỗi của drive nên việc điều khiển, phát hiện sự cố gặp nhiều khó khăn. • Về mặt trễ: Do sử dụng tín hiệu analog để điều khiển nên tín hiệu từ Controller đến các drive phải qua một bộ biến đổi D/A, và tín hiệu vị trí phản hồi về - 15 - từ Encoder (A/D).
Sự biến đổi 2 lần này đă tạo ra trễ làm ảnh hưởng đến tính thời gian thực của hệ thống điều khiển. Từ những phân tích ở trên ta nhận thấy phương pháp truyền thông truyền thống (dùng tín hiệu analog) này chỉ đáp ứng được những ứng dụng điều khiển chuyển động đơn giản (số trục tham gia chuyển động ít) và yêu cầu chính xác không cao. Một hệ điều khiển chuyển động phức tạp khi có nhiều trục tham gia chuyển động, và giữa các trục này có mối liên hệ, phối hợp chuyển động với nhau để thực hiện một nhiệm vụ chung nào đó. Đối với những hệ như thế này th́ tính đồng bộ giữa các trục và sự trao đổi thông tin giữa các trục với nhau là rất cần thiết.
Do đó, người ta phải t́m ra phương pháp truyền thông khác để đáp ứng được những bài toán điều khiển chuyển động phức tạp và dễ dàng cho việc thiết kế, điều khiển. Phương pháp truyền thông dùng mạng (bus) cho hệ điều khiển chuyển động. Người ta đă nghĩ ra giải pháp dùng bus để truyền thông thay cho phương pháp truyền thống trên như ở H́nh 1. Ở cấu h́ nh này người ta dùng 1 hoặc nhiều máy tính trung tâm để điều khiển các trục: Tín hiệu điều khiển có thể được gửi từ máy tính trung tâm đến từng trục một như phần trên của H́nh H́nh 1.
Cấu h́ nh mạng (bus) cho hệ điều khiển chuyển động.1, hoặc gửi tới các bộ điều khiển địa phương (local controllers) như ở phần dưới của H́nh 1.1 (các lệnh điều khiển nhóm), sau đó bộ điều khiển này điều khiển này mới gửi các lệnh tới các trục riêng lẻ. Máy tính trung tâm có thể là 1 chương tnh phần mềm, 1 chíp vi điều khiển, hoặc PLC. ➢ Khi dùng bus th́ tín hiệu được truyền là tín hiệu số. Ta có thể dễ nhận thấy rằng - 16 - những ưu điểm khi chuyển từ truyền tín hiệu tương tự (phương pháp truyền thống) sang truyền tín hiệu số( dùng bus) là: • Thông tin truyền trên bus có thể theo 2 chiều, lượng thông tin truyền lớn nên dễ điều khiển.
• Khả năng chống nhiễu cao. • Cấu trúc nối dây đơn giản. • Và có thể giảm giá thành. ➢ Khi dùng mạng (bus) để truyền thông trong hệ điều khiển chuyển động th́ một số vấn đề ta phải quan tâm là: • Tính thời gian thực của hệ thống.
• Thời gian trễ trong truyền thông. • Tính toàn vẹn của tín hiệu khi truyền. • Độ chính xác của hệ thống chuyển động (đánh giá theo một chỉ tiêu nào đó) Khái niệm xử lý thời gian thực không đồng nghĩa với xử lý rất nhanh mà là khả năng đáp ứng kịp thời và chính xác với tác động của sự kiện. Một trong những yếu tố ảnh hưởng tới tính kịp thời của hệ thống là : • Ảnh hưởng do trễ trong xử xử lư tính toán và truyền thông (tiền định – có thể ước lượng trước được).
• Ảnh hưởng do lỗi, nhiễu gây ra làm mất hay thay đổi tín hiệu. Việc loại bỏ thời gian trễ trong truyền thông là điều không thể. Nhưng ta có thể ước lượng được thời gian trễ cho phép đối với một hệ điều khiển. Từ đó, ta có thể chọn cấu h́ nh truyền thông và bộ điều khiển tương ứng mà vẫn đảm bảo được tính thời gian thực cũng như tính ổn định của hệ thống.
Một số mạng(bus) hay được sử dụng để truyền thông trong hệ điều khiển chuyển động. Cấu h́nh truyền thông cho hệ điều khiển chuyển động dùng loại bus tốc độ cao ( SynqNet, Ethernet, FireWire, Sercos…) Ở cấu h́ nh này, việc tạo quỹ đạo và thuật toán điều khiển vị trí được đặt ở bộ điều khiển chủ (a central host controller), tín hiện điều khiển của mô men hay tốc độ dạng số được gửi qua giao diện nối tiếp tốc độ cao tới các drive.1 Cấu h ́ nh mạng của hệ điều khiển chuyển động (tốc độ cao) Hạn chế của cấu h́ nh này là sự kết nối nối tiếp giữa controller và drive cần phải tương đối nhanh. Điều này làm tăng giá thành và độ phức tạp cho cả controller lẫn drive. Một số giải pháp đang tồn tại là: • SERCOS: Giải pháp cáp quang, chạy ở tốc độ 2,4 hoặc 16Mbit/s.a FireWire): Cáp đồng hoặc cáp quang chạy ở tốc độ 200 đến 400Mbit/s.a Ethernet): Giải pháp cáp đồng, chạy ở tốc độ 10Mbit/s tới 100Mbit/s.
Giao thức giao tiếp được sử dụng cho các giải pháp trên th́ khác nhau (có thể mở hoặc được giữ bản quyền của nhà sản xuất). Nếu tốc độ cập nhật của mạch ng vị trí nằm trong khoảng: 5 – 10kHz, nghĩa là tín hiệu điều khiển của vận tốc hoặc mô men được gửi sau những khoảng thời gian là 200 đến 100 s.