Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan về cây nhàu 1. Đặc điểm thực vật học và phân bố của cây nhàu Trái nhau (Hình 1.1) có tên khoa học là Morinda citrifolia L. là một loài cây ăn quả trong ho cà phê, Rubiaceae, thường được gọi là Noni, là cây bản dia của các vùng nhiệt đới, có nguồn gốc ở Đông Nam Á (SC, 2001; Sang và ctv, 2001).
Theo nơi trồng trọt, nhàu còn được gọi là dâu tằm Ấn Độ hoặc “nuna” ở Ấn Độ (Chan- Blanco và ctv, 2006), Mengkudu ở Malaysia (Yahia, 2011) hoặc quả pho mát ở Úc (Ross, 2005). Tên phố biến nhất của nó, noni, được giới thiệu bởi những người nhập cư Polynesia khi đến đảo Hawaii vào khoảng 2000 năm trước (Wang và ctv, 2002). Cây nhàu và trái Phạm vi bản dia của nó trải dài khắp Đông Nam Á và Australasia, và được các thủy thủ Polynesia phân bố đến Thái Bình Dương (Prance và Nesbitt, 2012). Ở Việt Nam, trái nhàu mọc nhiêu ở những vùng âm thâp dọc theo bờ sông, bờ suôi, ao hô hoặc mương rạch ở khắp các tỉnh miên Nam hoặc một sô tỉnh miên Trung (Wang và ctv, 2002).
Giai đoạn đầu của sự trưởng thành Hình thành chùm hoa sau 9 tháng trông Giai đoạn 1 Sau 10 ngày Màu xanh lá cây đậm Đô cứng cao Chiêu dài từ 4-7 cm ¬ = S «@ Giai đoạn 2 3 Mau vang- xanh 2 Đô cứng cao ¬ Chiêu dài từ 4-7 cm = | y 5 Giai đoạn 3 a = Mau vang nhat lệ, Độ cứng cao s Chiêu dài từ 8-14 cm $ | 1¬ _ tai >2 Giai doan 4 - ã re = š Màu vàng nhạt hoặc trăng s. Đô cứng vừa phải cả s =8 Chiêu dài từ 8-14 cm Ore = = g ee? a =O aa.S 2 ar TO> GB. 5 Giai doan esas m a 3 = we Màu xám trang ens Mềm va mong nước | | Chiêu dài từ 8-14 cm Hình 1. Năm giai đoạn phát triển khác nhau của trái nhàu (Chan-Blanco và ctv, 2006) Cây nhàu có chiều cao từ 3-10 mét.
Nó có nhiều lá hình elip dài và rộng (chiều dài 5-17 cm & chiều rộng 10-40 cm). Hoa nhỏ, hình ống và có màu trắng. Cuống lá dé lại vòng như những vết han trên cuống va tràng hoa màu trang lục. Trái nhàu có chiều dài khoảng 5 đến 10 cm và chiều rộng từ 3 đến 6 em.
Theo Nelson, (2005) báo cáo một trái nhàu có chiều dai lên đến 14 cm và đường kính 8 em. Bề ngoài của nó có hình bầu dục và nhiều thịt, với nhiều hạt nhỏ hoặc "chéi" màu nâu đỏ hợp nhất với bề mặt thô ráp cua trái. Trai có màu xanh lục nhạt khi chưa chín va màu trắng hơi vàng khi chín, mềm, có thịt ở bên trong, với cùi sền sệt màu trắng hơi vàng tùy thuộc vào giai đoạn trưởng thành (Chan-Blanco và ctv, 2006). Năm giai đoạn phát triển khác nhau của trái nhàu được trình bày ở Hình 1.
Trái nhàu cũng có vị đắng hoặc chát khi chín và có mùi ôi khét tương tự như axít butyric. Hơn nữa, một trái nhàu có thé chứa tới 260 hạt (Motshakeri và Ghazali, 2015). Quá trình thu hoạch và xử lý trái Trái nhàu có thể được hái ở bất kỳ giai đoạn phát triển nảo, tùy thuộc vào phương pháp chế biến dự định. Trái nhàu được thu hoạch bằng tay bằng cách hái từng trái từ cành.
Chúng được đặt trong giỏ hoặc túi hoặc đặt trong thùng dé vận chuyên đến cơ sở chế biến. Trái nhàu không dé bi bam hoặc hư hỏng, và thường không cần có hộp lót đệm đặc biệt hoặc các biện pháp phòng ngừa khác để ngăn trái nhàu bị hư hỏng đáng ké. Trái nhàu xanh hoặc vàng chưa chín rất cứng và bên, do đó có khả năng chống hư hỏng bề mặt và bam trong quá trình vận chuyền và xử lý. Trái nhàu ở giai đoạn phát triển này sẽ chín qua đêm hoặc vài ngày ở nhiệt độ phòng và có thể được chế biến lấy nước trái cây ngay sau đó.
Hơn nữa, việc phơi trái nhàu dưới ánh nắng trực tiếp hoặc nhiệt độ âm ngay sau khi thu hoạch không phải là mối quan tâm đáng kê. Vì vậy, trái nhàu không cần bảo quản lạnh sau khi thu hoạch và thường không dé trong tu lanh (Yashaswini va ctv, 2014). Tuy nhién, theo Singh va ctv, (2007) báo cáo rằng trái cây có thời han sử dung từ 5 đến 7 ngày ở nhiệt độ môi trường từ 25 đến 30°C và độ âm tương đối từ 70 đến 75%. Thành phần các hoạt chất sinh học trong trái nhàu Nhàu có giá trị dinh đưỡng cao và gần 200 hợp chất phytochemical có đặc tính hoạt tính sinh học đã được xác định và phân lập từ các bộ phận khác nhau của cây (Inada và ctv, 2017).
Điều quan trọng là thành phần sinh hóa của các hợp chất này khác nhau hoàn toàn không chỉ theo cấu trúc của thực vật mà còn liên quan đến nơi xuất xứ và thời kỳ thu hoạch (Chan-Blanco và ctv, 2006; Deng và ctv, 2010). Các báo cáo thử nghiệm về xác định thành phần dinh dưỡng của cây nhàu cho thấy quả nhàu chín có khoảng 90% nước và 10% chất khô. Chất khô chủ yếu bao gồm các chất rắn hòa tan, trong đó 5% là đường khử (fructose va glucose) và 1,3% là sucrose, phần còn lại của chất rắn hòa tan bao gồm protein và chất xơ (Motshakeri va Ghazali, 2015). Theo Malik va ctv (2009), trong 100g mau bột trái cây bao gồm khoảng 71% carbohydrate, 36% chất xơ và 5,2% protein.
Các nhóm hợp chất hoạt tính sinh học khác trong nhàu đã được báo cáo, bao gồm axit, rượu, phenol, saccharide, anthraquinon, carotenoid, este, triterpenes, flavonoid, glycoside, lacton, iridoids, xeton, lignans, nucleoside, sterol,. Polyphenol Polyphenol được biết đến như một sản pham phụ của thực vật và chat chong oxy hóa, và các polyphenol chính trong trái nhàu bao gồm damnacanthal, scopoletin, morindone và alizarin, aucubin, nordamnacanthal, v., góp phần vào các hoạt động dược lý khác nhau của trái nhàu (Chan-Blanco và ctv, 2006; J. Kim và ctv, 2017). Ngoài ra, Kim và ctv (2017) đã đo hàm lượng polyphenol bằng cách chiết xuất trái nhàu được trồng ở sáu khu vực sản xuất, với kết quả dao động là 0,76 -1,67 mg/ml.
Nghiên cứu của cũng cho thấy tong hàm lượng polyphenol trong các mẫu nước ép trái nhàu dao động trong khoảng 0,36 đến 1,61 mg/mL từ khi trái chưa chin đến lúc trái chín hoàn toàn. Flavonoid Theo Singh và Singh (2013) đã báo cáo sự khác biệt đáng kế của flavonoid trong các bộ phận khác nhau cua cây nhàu. Theo nghiên cứu, lượng flavonoid dao động từ 190,0- 321,4 mg/100 g; lượng cao nhất được tìm thấy ở rễ và thấp nhất ở quả chín. Cấu trúc hóa học của các flavonoid chính được xác định trong trái nhau (Almeida và ctv, 2019) Theo Yang và ctv (2011) nhận thấy rằng tổng hàm lượng các hợp chất phenolic, tiềm năng chống oxy hóa và hàm lượng axit ascorbic trong trái nhàu tăng khi chuyển từ giai đoạn xanh sang màu trắng cứng (từ giai đoạn đầu tiên đến giai đoạn thứ ba, Hình 1.2) và giảm dần khi quả càng chín.
Cụ thé, so với trái chín, trái nhàu trắng cứng có hoạt tính chống oxy hóa cao hơn 1,2-2,2 lần, tong hàm lượng phenolic cao hơn 1,5 lần và hàm lượng axit ascorbic cao hơn 7,0 lần, trong khi trái nhàu xanh non có hoạt tính chống oxy hóa cao hơn 1,1-1,5 lần, tổng số hàm lượng phenol cao hơn 1,3 lần và hàm lượng axit ascorbic cao hon 1,3 lần. Khoáng chất chiếm khoảng 8,4% chất khô của trái nhàu, và có thé thay đổi tùy theo mức độ chín của trái, điều kiện trồng và sau thu hoạch (Chan-Blanco và ctv, 2006). Theo mô tả của Rybak và Ruzik (2013) cho thay dấu vết mangan, molypden, đồng và coban. Theo West và ctv (2011) đã phát hiện kali là khoáng chất phong phú nhất trong quả nhàu, khoảng 214,34 mg/ 100 g.
Các khoáng chất khác như canxi, sắt, natri và selen cũng đã được xác định, và loại khoáng chất này cung cấp tới 26% liều khuyến cáo hàng ngày cho người lớn. Vitamin cũng đã được báo cáo trong các nghiên cứu liên quan đến trái nhàu. Vitamin C có nhiều nhất trong trái cây, dao động từ 24 đến 158 mg/ 100 g chất khô (Chan-Blanco và ctv, 2006). Lượng vitamin C có trong quả nhàu xay nhuyễn là khoảng 1,13 mg/g quả nhàu, tương ứng với 250% nhu cầu vitamin C hàng ngày được khuyến nghị cho người lớn (West và ctv, 2011).
Một số nghiên cứu về công dụng của trái nhàu Trước đây nhân dân ta cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới như Campuchia, Philippin, An độ. đã biết sử dụng một số bộ phận cây nhàu để làm thuốc. Các bộ phận của cây nhàu được dùng làm thuốc là rễ, quả, lá và vỏ cây. Nó đã được báo cáo có nhiều lợi ích sức khỏe đối với bệnh ung thư, nhiễm trùng, viêm khớp, tiêu đường, hen suyén, tăng huyết áp và đau nhức (Whistler, 1992).
Trong y học phố biến, việc sử dụng trái nhàu rộng rãi như một chất bổ sung thực phẩm trong điều trị một số loại ung thư (Torres và ctv, 2017). Trong bối cảnh đó, các nghiên cứu khoa học về đặc tính chống ung thư của trái nhàu ngày càng tăng, đặc biệt là trong 30 năm trở lại đây. Trong số các thành phần tự nhiên của nhàu, damnancanthal có thé thúc day việc kích hoạt các gen quy định quá trình chết trong các dòng tế bào của người bị ung thư ruột kết (Nualsanit và ctv, 2012). Nghiên cứu trên người đầu tiên được thực hiện bởi (Wong, 2004) ở Hawaii.
Tác giả đã nghiên cứu lợi ích của việc sử dụng nước ép nhàu ở bệnh nhân ung thư. Bệnh nhân đã chọn dùng nước ép tự chế hàng ngày trong hai tháng. Sau một tháng, bệnh nhân đã cải thiện đáng kể tình trạng lâm sang, ngừng điều trị sau sáu tháng. Nghiên cứu điển hình thứ hai được phát triển bởi (Issell va ctv, 2009) tại Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Hawaii.
Trong nghiên cứu này, một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I đã được thực hiện dé xác định liều lượng tối đa cho phép của viên nang trái nhàu đông khô (500 mg/ viên) ở bệnh nhân ung thư. Kết quả của các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh rằng điều trị chống lại ung thư thông qua việc uống viên nang nhàu chưa mang lại hiệu quả rõ ràng nào, chỉ giảm mệt mỏi và đau cơ. Tác giả đề xuất một số lượng lớn bệnh nhân điều trị lâm sảng và sử dụng nhàu như một loại thuốc chống ung thư.