CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XÚC TÁC QUANG 1. Khái niệm xúc tác quang Thuật ngữ xúc tác quang được dành cho các phản ứng được tiến hành khi có mặt đồng thời các chất bán dẫn và ánh sáng.
Theo đó, IUPAC định nghĩa xúc tác quang là “sự thay đổi tốc độ phản ứng hay lượng chất ban đầu do hoạt động của các bức xạ cực tím, khả kiến và hồng ngoại trong sự có mặt của một chất – gọi là chất xúc tác quang – đã hấp thụ năng lượng từ nguồn bức xạ”, và quá trình này “chỉ bao gồm sự chuyển khối hóa học của các chất tham gia phản ứng”. Phản ứng đảm bảo các yêu cầu trên gọi là phản ứng xúc tác quang. Khác với các chất xúc tác thông thường được hoạt hóa bằng nhiệt, chất xúc tác quang được hoạt hóa bằng các photon ánh sáng có năng lượng thích hợp. Xử lý nước thải chứa các chất hữu cơ ô nhiễm bằng phương pháp xúc tác quang được biết là công nghệ thân thiện với môi trường và có tiềm năng ứng dụng trong thực tiễn [2].
Cơ chế xúc tác quang Xúc tác quang là phản ứng sử dụng nguồn năng lượng từ các bức xạ điện từ của photon để hoạt hóa phản ứng. Phương trình Plank biểu diễn mối quan hệ giữa tần số ν của bức xạ điện từ và năng lượng (E) tương ứng của nó, như sau: E = hν (h: hằng số Plank) (1.1) Để kích thích electron từ vùng hóa trị lên vùng dẫn, năng lượng của bức xạ điện từ cần phải lớn hơn năng lượng vùng cấm của chất bán dẫn. Mỗi e 8 một photon có một năng lượng (hay bước sóng riêng) kích thích để nâng một electron từ vùng hóa trị lên vùng dẫn tạo thành electron vùng dẫn ở trạng thái kích thích (e-CB) và một lỗ trống mang điện tích dương trên vùng hóa trị (h+VB). Các hợp phần mang điện quang sinh này (e-CB và h+VB) hoạt động theo những hướng rất đa dạng tùy thuộc vào cấu trúc điện tử và môi trường hoạt động của bán dẫn.
Sau khi được hình thành, các tiểu phân mang điện quang sinh có hai khả năng tiếp tục hoạt động. Thứ nhất, các tiểu phân này di chuyển đến các vị trí bẫy nằm trên bề mặt vật liệu để tiến hành các tương tác với các hợp phần hấp phụ cho hoặc nhận electron. Thứ hai, các tiểu phân mang điện quang sinh có thể tái kết hợp do gặp nhau trong quá trình dịch chuyển. Quá trình tái kết hợp làm ngăn cản hoạt động quang oxi hóa khử và dẫn đến làm giảm hoạt tính xúc tác quang của vật liệu.
Vùng năng lượng của chất cách điện, chất bán dẫn, chất dẫn điện. Dưới tác dụng của ánh sáng, cơ chế xúc tác quang trên chất bán dẫn gồm các quá trình: Chất bán dẫn (C) + hν → e-CB(C) + h+VB(C) (1.2) Các electron và lỗ trống chuyển đến bề mặt và tương tác với một e 9 số chất bị hấp phụ trên bề mặt như nước và oxy tạo ra những gốc tự do trên bề mặt chất bán dẫn [3]. Cơ chế phản ứng xảy ra như sau: hVB H 2O HO H (1.7) H2O2 phản ứng tạo ra HO H 2O2 h 2HO (1.8) H 2O2 eCB HO HO (1.10) Ion OH- sinh ra có thể tác dụng với lỗ trống quang sinh để tạo thêm gốc HO hVB HO HO (1.11) HO oxi hóa các chất hữu cơ: HO• + Chất hữu cơ → CO2 + H2O +.12) Như đã biết, các electron quang sinh có tính khử rất mạnh còn các lỗ trống quang sinh có tính oxi hóa rất mạnh. Chúng sẽ tham gia phản ứng với các chất hấp phụ tại bề mặt chất xúc tác như H2O, ion OH-, các hợp chất hữu cơ hoặc oxi hòa tan để sinh ra gốc tự do HO , tác nhân chính của các quá trình oxi hóa khử nâng cao.
Tác nhân oxi hoá HO mạnh gấp 2 lần so với clo, và còn mạnh hơn cả O3 là tác nhân oxy hóa rất mạnh thường hay gặp. Có thể so sánh e 10 giá trị thế khử chuẩn của HO với một số tác nhân oxi hóa mạnh khác ở Bảng 1. Thế khử chuẩn của một số tác nhân oxi hoá mạnh Tác nhân Thế khử chuẩn (eV) Cl2 1,36 HO 2,80 O 2,42 O3 2,08 H2O2 1,78 Dữ liệu ở Bảng 1.1 cho thấy, gốc HO có khả năng oxi hóa hoàn toàn các chất hữu cơ bền vững, ngoài ra nó còn ưu việt hơn do tốc độ phản ứng của nó có thể nhanh hơn O3 nhiều lần. Nhìn chung, các thành phần hữu cơ bị oxi hóa theo cơ chế: RH HO R H 2O R O2 H 2O CO2 acid vô cơ Đối với hợp chất chứa nitơ dạng azo, phản ứng oxi hóa quang phân hủy xảy ra theo cơ chế sau: R N N R' HO R N N R' OH R N N R ' H R N N R ' H R N N R N 2 e 11 R HO phân hủy Như vậy, sản phẩm của quá trình phân hủy chất hữu cơ gây ô nhiễm trên hệ xúc tác quang là khí CO2, H2O và các chất vô cơ.
Mô phỏng quá trình xúc tác quang Các lỗ trống mang điện tích dương tự do chuyển động trong vùng hóa trị do các electron khác có thể nhảy vào lỗ trống để bão hòa điện tích, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi. Các electron quang sinh trên vùng dẫn cũng có xu hướng tái tổ hợp với các lỗ trống quang sinh trên vùng hóa trị, kèm theo việc giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt hoặc ánh sáng. Quá trình này làm giảm đáng kể hiệu quả xúc tác quang của vật liệu, nên việc kéo dài thời gian sống của electron và lỗ trống cũng làm tăng hiệu suất xúc tác quang. Do đó, việc pha tạp hoặc ghép các cặp chất với nhau một cách hợp lí là xu hướng mà các nhà khoa học hiện nay quan tâm và nghiên cứu [2].
Giới thiệu vật liệu xúc tác quang đã nghiên cứu Những năm gần đây, nhiều vật liệu xúc tác quang như TiO2 và ZnO, được biết đến như những chất xúc tác tiềm năng cho phản ứng oxi hóa chất e 12 hữu cơ, phản ứng phân tách nước trong vùng ánh sáng nhìn thấy [4][5] Khi được kích thích bởi một nguồn sáng có năng lượng lớn hơn năng lượng vùng cấm thì vật liệu bán dẫn sẽ sinh ra các electron và lỗ trống quang sinh. Các electron sinh ra cư trú trên vùng dẫn, còn các lỗ trống sẽ cư trú ở vùng hóa trị của vật liệu. Sau đó, các electron và lỗ trống quang sinh sẽ di chuyển đến bề mặt của vật liệu xúc tác, tham gia vào quá trình oxi hoá nước tạo thành gốc HO• và khử O2 tạo thành O2•-. Đây là những gốc tự do có khả năng oxi hoá mạnh, sẽ tham gia vào quá trình phân hủy chất hữu cơ.
Các vật liệu xúc tác quang có thể được chia thành hai nhóm chính: nhóm vật liệu truyền thống (có năng lượng vùng cấm lớn và đã được nghiên cứu sử dụng nhiều như TiO2, ZnO,…) và nhóm vật liệu xúc tác quang mới (có năng lượng vùng cấm hẹp). Trong đó, TiO2 là một chất bán dẫn điển hình thuộc nhóm vật liệu truyền thống có Eg = 3,2eV [4] Vật liệu truyền thống TiO2 có ưu điểm nổi trội là có thế năng vùng dẫn âm hơn thế khử của O2/O2•-, thế năng vùng hóa trị dương hơn thế oxi hóa của HO•/H2O (lần lượt là -0,4 eV và +2,8 eV). Do vậy, nếu được kích hoạt bằng ánh sáng có năng lượng thích hợp ( < 388 nm) sẽ sử dụng được cả quá trình khử ở vùng dẫn và quá trình oxi hóa ở vùng hóa trị, nhờ đó sẽ cho hiệu quả xúc tác quang phân hủy các chất hữu cơ cao. Tuy nhiên, nhóm vật liệu truyền thống nói chung và TiO2 nói riêng có nhược điểm cố hữu là năng lượng vùng cấm rộng nên chỉ bị kích hoạt trong vùng bức xạ UV, điều này làm hạn chế hoạt tính xúc tác, khả năng ứng dụng của nhóm vật liệu truyền thống để xử lý các chất hữu cơ ô nhiễm trong vùng ánh sáng nhìn thấy.
Do vậy, cần biến tính TiO2 bằng các kim loại (V, Fe, Ag, Pt,.), phi kim loại (C, N, S,.) hoặc ghép với các chất bán dẫn khác để mở rộng khả năng ứng dụng trong vùng ánh sáng nhìn thấy/ánh sáng mặt trời. e 13 Gần đây, nhóm các vật liệu xúc tác quang mới có năng lượng vùng cấm hẹp được quan tâm nghiên cứu. Ưu điểm của các vật liệu này là có thể sử dụng nguồn kích hoạt là ánh sáng nhìn thấy, đây là một thuận lợi lớn khi ứng dụng trong thực tiễn xử lý các chất hữu cơ ô nhiễm. Tuy nhiên, nhược điểm chung của nhóm vật liệu xúc tác quang thế hệ mới là tốc độ tái tổ hợp nhanh của các cặp điện tử và lỗ trống quang sinh và chỉ có thế vùng dẫn phù hợp để khử O2 thành O2•- hoặc thế vùng hóa trị phù hợp để oxi hóa H2O thành HO•.
Cơ chế quang xúc tác của các vật liệu bán dẫn thế hệ mới được trình bày ở Hình 1. Cơ chế xúc tác quang phân hủy chất hữu cơ của vật liệu bán dẫn mới Trong số các vật liệu bán dẫn thế hệ mới, các hợp chất bán dẫn dạng muối vanadate của nhiều kim loại khác nhau đã nhận được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học trên thế giới do có năng lượng vùng cấm hẹp, có độ bền hóa học và độ bền nhiệt cao, giá thành tổng hợp thấp. Cụ thể, nhiều hợp chất bán dẫn dạng muối vanadate như: Zn2(VO4)3, BiVO4, CeVO4 và FeVO4,… đã được nghiên cứu, ứng dụng để xử lý các chất hữu cơ, khử CO2 trong vùng ánh e 14 sáng mặt trời hoặc ánh sáng nhìn [6,7,8,9]. Trong số đó, BiVO4 với năng lượng vùng cấm hẹp, khoảng 2,4 eV (dạng monoclinic) cũng đã thu hút được sự chú ý rất lớn từ các nhà khoa học và được kỳ vọng sẽ là một trong những chất có thể thay thế chất xúc tác quang truyền thống TiO2 do hoạt tính quang xúc tác của nó cao dưới ánh sáng nhìn thấy, có giá thành thấp, quy trình tổng hợp đơn giản và thân thiện với môi trường.
TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU XÚC TÁC QUANG WO3 1. Cấu trúc của WO3 WO3 là oxit của kim loại chuyển tiếp Vonfram thuộc nhóm VIB. WO3 là chất bán dẫn loại n có độ rộng vùng cấm là 2,8 eV.