mở đầu kỷ nguyên độc lập dân tộc. Năm 1009, Lý Thái Tổ lên ngôi vua bắt đầu triều đại Lý — Trần ở nước ta. Cùng với sự phát triển của chế độ phong kiến trung ương tập quyền dưới thời Lý — Tran, hoạt động lập pháp của Nhà nước bat đầu phát triển. Các Bộ luật đầu tiên trong lịch sử lập pháp của dân tộc đã ra đời.
Năm 1042, Vua Lý Thái Tông cho soạn thảo “Bộ Hình thư”. Bộ Hình thư gồm có 3 quyên. Đó là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam. Trong Bộ Hình thư quy định về “thập ác” tức là mười hành vi phạm tội được coi là nguy hiểm và tàn ác nhất.
Trong đó có tội giết vua (mưu phản); tội mưu đánh, giết ông bà, cha mẹ và những người bé trên (ác nghịch); tội giết người một cách dã man hoặc dùng ma thuật giết nØười (bất đạo); tội mưu giết chồng (bất mục); dân giết quan, quân giết tướng (bất nghĩa). Tất cả những tội này đều sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc băng các hình phat nặng, như: Người phạm tội bị đóng lên tam ván đem bêu ở chợ rồi sau đó mới đưa ra pháp trường xẻo thịt, róc xương cho đến chết (thượng mộc mã) hay chém béu dau. Năm 1483, dưới triều Lê Thánh Tông, Bộ luật Hồng Đức (còn gọi là Bộ Quốc triều Hình luật) được ban hành. Bộ luật gồm có 6 quyền, 722 điều, là bộ luật tập hợp, điều chỉnh về nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội như quan hệ hình sự, quan hệ tố tụng, quan hệ dân sự và cả quan hệ hôn nhân gia đình.
Khi nghiên cứu lịch sử pháp luật các học giả nghiên cứu đã đánh giá Bộ luật này là đỉnh cao của thành tựu lập pháp của lịch sử lập pháp ở Việt Nam. 11 Trong Bộ luật Hồng Đức đã sớm xây dựng được những quy định các trường hợp giết người có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ với những hình phạt nặng nhẹ khác nhau tùy thuộc vào hành vi phạm tội. Bộ luật cũng đã sớm quy định về các trường hợp chuẩn bị giết người, giết người chưa đạt. Vi dụ: Tại chương “Đạo tặc”, Điều 6 Bộ luật Hong Duc có quy định: “Muu giết các bậc tôn trưởng vào hạng ty ma (những người có họ phải để tang 3 tháng) trở lên thì phải lưu đi châu ngoài; đã làm cho bị thương thì phải xử tội giảo; đã giết chết thì xử tội chém”.
Có thê thây mức độ nặng nhẹ của hành vi được sắp xếp theo chiều tăng dần đi kèm với hình phạt cũng tăng dần là chuẩn bị phạm tội sé bị phạt lưu day, phạm tội chưa đạt sẽ phải chịu hình phạt giảo, và phạm tội đã hoàn thành thì sẽ phải chịu hình phạt chém đầu. Cũng tại chương trên, Điều 10 quy định: “Kẻ giết tới 3 người trong một gia đình, thì xử tội chém béu dau”. Điều 15 quy định: “Bắt được kẻ giết người mà tự tiện giết di, thì xứ nhẹ hon tội giết người 2 bác”. Bộ luật Hồng Đức khăng định tội giết người là tội phạm nguy hiểm, dã man và tàn ác nhất.
Chính vì vậy, Bộ luật đã quy định những hình phạt nghiêm khắc để áp dụng đối với kẻ phạm tội giết người, đó là hình phạt tử hình. Tử hình có ba bậc: thắt cổ, chém là một bậc; chém béu đầu là một bậc; lăng trì là một bậc, tùy theo tội mà tăng giảm”. Đến thời Gia Long triều Nguyễn, năm 1815 Bộ luật Gia Long được ban hành. Bộ luật bao gồm 22 quyền, 398 điều.
Cũng giống như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống. Tội giết người trong Bộ luật Gia Long được quy định ở Điều 1, Điều 2 — Quyền 2 — Phần “Danh lệ” và từ Điều 1 đến Điều 13 * Nhà xuất bản chính trị quốc gia(1995), Quốc triéu hình luật, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 36. 12 — Quyền 14 — phần “Nhân mạng”. Nghiên cứu quy định về tội giết người trong Bộ luật Gia Long tác giả rút ra một số nhận xét sau đây: Thứ nhất, Bộ luật Gia Long đã có sự kế thừa những thành tựu khoa học của Bộ luật Hồng Đức trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như trong đường lối xử lý người phạm tội giết người.
Theo đó, Bộ luật Gia Long cũng đã quy định các trường hợp phạm tội giết người nặng hơn hoặc nhẹ hơn so với những trường hợp giết người thông thường; quy định giết người đã hoàn thành thì nguy hiểm hơn giết người chưa đạt và càng nguy hiểm hơn chuẩn bị giết người. Ví dụ: Điều 2 Quyên 14 Phần “nhân mạng” có quy định: “Quân sĩ mưu giết quan cai quản mình đã thi hành mà chưa bị thương thì kẻ dau nậu bị phạt 100 trượng, lưu 2000 dặm. Đã gây thương tích thì kẻ cam đâu bị treo cổ, bọn a tong bị giảm một bậc tội lưu giao. Những ai thực hiện giết xong, déu bị chém ca”.
Khoản 5 điều 6 quy định: “Giết 3,4 mạng trong một nhà không phải tử tội, hung phạm xử chết bằng lăng tri”. Thứ hai, Bộ luật Gia Long, so với Bộ luật Hồng Đức, đã có sự phát triển đáng kể trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự. Điều này được thể hiện qua các quy định mới trong tội giết người. Cụ thé là: Bộ luật Gia Long đã bổ sung thêm nhiều trường hợp phạm tội giết người bị xử phạt nặng hơn những trường hợp giết người thông thường.
Đó là những trường hợp: 1) Giết người dã man, tàn ác; 2) Giết người băng phương pháp, thủ đoạn nguy hiểm; 3) Giết người vì động cơ vụ lợi. Bộ luật Gia Long cũng đã bồ sung thêm nhiều trường hợp phạm tội giết người được xử phạt nhẹ hơn những trường hợp giết người thông thường. Đó là những trường hợp: 1) kẻ giết người là a ting; 2) Kẻ giết người là chồng của nạn nhân và nạn nhân là người có 101. 5 Nhà xuất bản sử học (1962), Đại Nam thực lục chính biên, tập IV, Hà Nội.
13 Với sự kế thừa và phát triển những thành tựu khoa học của Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long đã trở thành “mot Bộ luật lớn nhất của chế độ phong kiến Việt Nam, là Bộ luật day đủ va hoàn chỉnh nhất của nên cổ luật Việt Nam’” là một phần của di sản văn hóa Việt Nam mà triều Nguyễn đã có công đóng góp. Quy định về tội giết người ở Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh chống Thực Dân Pháp cai trị (từ năm 1858 đến năm 1945) Năm 1858 Thực dân Pháp nỗ súng tan công bán đảo Sơn Tra, Đà Nang chính thức nô ra cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Đến năm 1885, Thực dân Pháp chính thức xâm chiếm được nước ta, đặt nước ta dưới sự cai trị của chế độ thực dân. Đề dễ bè cai trị, Thực Dân Pháp chia nước ta thành 3 kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ.
Năm 1912, Bộ Hình luật Canh Cải được ban hành và áp dụng tại Nam kỳ. Tội giết người được quy định tại các Điều 302, 304, 320, 322, 323, 324, 325, 327, 328, 329”. Nghiên cứu các quy định của Bộ luật này về tội giết người, tác giả rút ra một số nhận xét như sau: Thứ nhất, Bộ Hình luật Canh Cải đã có sự kế thừa những thành tựu khoa học của các Bộ luật thời kỳ phong kiến trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như trong đường lỗi xử lý người phạm tội giết người. Điều này thé hiện ở chỗ: Bộ Hình luật Canh Cải không những đã quy định những trường hợp phạm tội giết người bị xử phạt nặng mà còn quy định cả những trường hợp giết người được xử phạt nhẹ hơn những trường hợp giết người thông thường.
Cụ thê là: 5 Nguyễn Văn Thành- Vũ Trinh- Trần Hựu (1995), Hoang Việt luật lệ( luật Gia Long)từ tập I đến tap V, Nhà xuât bản văn hóa thông tin, Thành phô Hô Chí Minh. 7 Nguyễn Quang Quynh (1973), Hinh luật tổng quát, in lần thứ 2 tại dn quán phong phú, 442, Phú Định- Phú Lâm- Chợ Lớn. 14 -Diéu 304 quy định: “Giét người bằng độc được; giết người di đôi với một trọng tội khác sé bị tử hình”. -Điều 302 quy định: “Người mẹ đồng phạm trong tội giết con được luật khoan hông hơn là đối với kẻ khác là đồng phạm hay là chính phạm”.Š Thứ hai, Bộ Hình luật Canh Cải, so với các Bộ luật thời kỳ phong kiến, đã có sự phát triển đáng ké trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như trong đường lối xử lý người phạm tội.
Điều này được thể hiện qua các quy định mới trong tội giết người. Cụ thê là: Bộ Hình luật Canh Cai đã bồ sung thêm nhiều trường hợp phạm tội giết người bị xử phạt nặng hơn những trường hợp giết người thông thường. Theo Điều 304 Bộ Hình luật Canh Cải, đó là những trường hợp: Giết người có dự mưu hoặc rình rập; Giết người dé sửa soạn hay thực hiện một khinh tội; Giết người để giúp thủ phạm của khinh tội ấy chạy thoát; giết người dé che giấu một tội phạm khác. Trong lịch sử pháp luật Việt Nam, đây là bộ luật đầu tiên đề cập đến vẫn đề miễn hình phạt cho những người phạm tội giết người cũng như những trường hợp tuy gây ra cái chết cho nạn nhân nhưng không phạm tội giết người.
Ví dụ: Điều 324 quy định: “Chong bắt duoc vợ quả tang đang thông gian tại cư sở của vợ chong mà đương trường giết chết hoặc đánh bị thương đứa gian phu, dâm phụ thì sẽ được khoan miễn"; Điều 325 quy định: “Đàn bà, con gái mà đương trường giết chết hoặc đả thương kẻ cưỡng gian hoặc sắp cưỡng gian mình thì cũng được khoan miên"; Điều 327 quy định: “Không có trọng tội, không có khinh tội nếu sự sát nhân và đả thương xảy ra do pháp lệnh và lệnh của nhà cam quyên chính thức”; Điều 328 quy định: “Không có trọng tội Š Đỗ Đức Hồng Hà, “Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại Học luật Hà Nội, 2001, tr 14. 15 cũng như khinh tội nếu sự sát nhân xảy ra đo sự can thiết hiện thời phòng vệ chính dang ban than hay kẻ khác”. Năm 1933, tai Trung kỳ Bộ Hoang Việt Hình luật được ban hành thay thế Bộ luật Gia Long. Tại Bộ Hoàng Việt Hình luật, tội giết người được quy định tại các Điều 280 đến Điều 285.
Về cơ bản thì bộ Hoàng Việt Hình luật phát triển dựa trên sự kế thừa của Bộ Hình luật Canh Cải.