Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến tội chống người thi hành công vụ 1. Khái niệm về công vụ “Công vụ” là một khái niệm rộng và có ý nghĩa quan trọng trong nền hành chính nhà nước. Trong lý luận khoa học, công vụ được cấu thành từ nhiều yếu tố tổng hợp lại như: đội ngũ cán bộ, công chức, tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước và cuối cùng là thể chế công vụ [21].
Nhiều văn bản pháp lý đã đề cập tới thuật ngữ “công vụ” dưới nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể là: trong Mục 1, Chương 2, Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC/NQ, ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đưa ra định nghĩa khái niệm công vụ như sau: “Công vụ là một công việc mà cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện”. Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tại Điều 2, nêu như sau: “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [18]. Theo quy định này, phạm vi chủ thể của hoạt động công vụ đã được xác định cụ thể là hoạt động nhằm thực hiện công việc do Nhà nước giao trên cơ sở quy định của pháp luật.
Do đó, đặc điểm quan trọng nhất của “công vụ” là tính tuân theo pháp luật. Đồng thời, đối tượng thực hiện “công vụ” cũng được xác định cụ thể là “cán bộ, công chức”. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, tại Điều 3 có nêu phạm vi hoạt động “công vụ” như sau: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà 7 luan an nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án” [19]. Như vậy, phạm vi hoạt động của “công vụ” được giới hạn ở trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và trong thi hành án.
Từ những khái niệm trên có thể đưa ra những đặc điểm và tính chất của công vụ cũng như mục đích phục vụ Nhân dân và xã hội của công vụ: Công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội do công chức nhân danh Nhà nước tiến hành. Đối với khái niệm hoạt động công vụ, có thể hiểu hoạt động này là việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước, mang tính quyền lực Nhà nước, nhân danh Nhà nước và chịu sự tác động, điều chỉnh bởi ý chí của Nhà nước, hướng tới mực tiêu quản lý mọi mặt của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật, phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội, không có yếu tố lợi nhuận, hoạt động này được tiến hành bởi công chức nhà nước theo trình tự pháp luật và được pháp luật bảo vệ. Hoạt động công vụ có đặc điểm là được tiến hành thường xuyên, mang chuyên nghiệp cao. Ngoài ra hoạt động công vụ còn là những hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước ủy quyền).
Đặc điểm quan trọng nhất của công vụ là tính đúng pháp luật, đúng quy trình, đúng thủ tục và người được giao theo đúng thẩm quyền. Nếu hoạt động không tuân thủ pháp luật, không đúng quy trình của hoạt động công vụ thì được coi là “làm trái công vụ” hoặc không phải là hoạt động công vụ. Khái niệm người thi hành công vụ Để xác định như thế nào là người thi hành công vụ phải xét ở ba khía cạnh: Về chủ thể, về phạm vi thực hiện nhiệm vụ và về thời gian thực hiện nhiệm vụ. 8 luan an - Về chủ thể: Chủ thể thực thi công vụ phải là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật, hiện đang công tác, làm việc tại các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội hoặc một công dân bất kỳ nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ.
- Về phạm vi thực hiện nhiệm vụ: một người được coi là người thi hành công vụ chỉ khi họ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức hướng đến mục tiêu phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, của cộng đồng. Người đang thi hành công vụ phải là người đang thực thi một công vụ hợp pháp với các quy trình, thủ tục theo đúng pháp luật. - Về thời gian thực hiện nhiệm vụ: Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc nhiệm vụ đó. Theo quy định tại Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ, ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì: “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp vụ (như: tuần tra, canh gác…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội” [ ].
Phân tích quy định nêu trên cho thấy, người thi hành công vụ được hiểu là những người có chức vụ và quyền hạn làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội mà các cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình hoặc công dân được trưng dụng thực hiện các nhiệm vụ theo phân công, yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền. Điều 3, Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2017, nêu khái niệm về “người thi hành công vụ” như sau: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”. 9 luan an Trong Điều 3, Nghị định số 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 của Chính phủ quy định về các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những hành vi chống người thi hành công vụ nêu ra khái niệm: “Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, Nhân dân và xã hội”. Những khái niệm về người thi hành công vụ nêu trên đã bao quát được một số khía cạnh về người thi hành công vụ, như: chủ thể và phạm vi thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ nhưng chưa đề cập đến thời gian thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ.
Thời gian thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ là một trong những yếu tố quan trọng, là cơ sở cần thiết để xác định loại tội phạm này, bởi công vụ được xem là người thi hành công vụ khi họ “đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc nhiệm vụ đó”. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ 1. Khái niệm, đặc điểm tội chống người thi hành công vụ Nghị định số 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 của Chính phủ quy định về các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những hành vi chống người thi hành công vụ quy định: “Hành vi chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có hành vi khắc nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc ép buộc người thi hành công vụ không thực hiện nhiệm vụ được giao” [Điều 3]. Hành vi chống người thi hành công vụ trong tội chống người thi hành công vụ là hành vi xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cá nhân làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của các cơ quan, 10 luan an tổ chức, cá nhân được giao quyền và có thể xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người được giao thi hành công vụ.
Tội chống người thi hành công vụ có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, tội chống người thi hành công vụ có cấu thành tội phạm là hành vi xâm phạm tới hoạt động quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hành chính, tố tụng và thi hành án; xâm phạm hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân người thi hành công vụ làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có công vụ thực thi. Tội chống người thi hành công vụ xâm hại, tác động trực tiếp tới quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án liên quan tới hoạt động “công vụ” thông qua việc tác động trực tiếp đến người đang thi hành công vụ. Thứ hai, chủ thể thực hiện hành vi thuộc tội chống người thi hành công vụ phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự (đủ độ tuổi chịu TNHS; không thuộc trường hợp mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi do mắc bệnh theo quy định của luật). Thứ ba, hành vi của tội chống người thi hành công vụ là hành vi cố ý cản trở, gây khó khăn cho việc thực hiện công vụ do người thi hành công vụ đang tiến hành.
Có thể hiểu “cản trở người thi hành công vụ” là làm người thi hành công vụ không thực hiện được công vụ hoặc làm họ thực hiện hành vi trái với công vụ.