Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu các bệnh giun truyền qua đất 1. Giun đũa Giun đũa lần đầu tiên chính thức được mô tả bởi EdWard Tyson (quý tộc người Anh) vào năm 1683, với hình dạng giống như giun ở đất và được đặt tên là "Lumbricus teres". Năm 1915 Uỷ ban Quốc tế gồm 66 thành viên của các nước đã chính thức xác nhận tên giun đũa trên danh mục động vật học là Ascaris lumbricoides [33], [47].
Giun tóc Vào năm 1771, giun tóc lần đầu tiên được mô tả bởi Linnaeus, tiếp theo chu kỳ của giun tóc được Grassi xác định năm 1887 và được Fulleborn hoàn chỉnh vào năm 1923. Giun tóc có nhiều tên gọi khác nhau trong đó Trichiuris trichiura được các chuyên gia Châu Mỹ thống nhất là tên gọi chính thức vào năm 1941 [48], [83], [85]. Giun móc/mỏ Trong các tài liệu cổ, bệnh giun móc đã được mô tả từ lâu và đến thế kỷ 17 được nhiều tác giả mô tả đầy đủ hơn như Jakok de Bondt (1629), Pison và Magraff (1648). Tên gọi Ancylostoma duodenale được các nhà khoa học thống nhất trong danh mục động vật học vào năm 1915 [47].
Năm 1898, Loss đã xác định được cơ chế nhiễm bệnh qua da của giun móc, đến năm 1902 Stiles C.W đã tìm thấy Necator americanus và đặt tên là giun mỏ cũng ký sinh ở tá tràng nhưng phổ biến hơn Ancylostoma duodenale ở một số nơi [48]. Dịch tễ học bệnh GTQĐ 1. Dịch tễ học bệnh giun đũa (Ascaris lumbricoides) 6 Bệnh giun đũa gặp ở khắp nơi trên thế giới do trứng của giun đũa có thời gian phát triển ở ngoại cảnh, số lượng lớn trứng giun đũa được thải ra ngoài theo phân, có sức đề kháng cao với ngoại cảnh và lây nhiễm vào người một cách thụ động qua đường ăn uống. Vì vậy, các yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm và sự phân bố của bệnh là điều kiện khí hậu, vệ sinh môi trường và tập quán canh tác (sử dụng phân người làm phân bón).
Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm ở miền Bắc (70-85%) cao hơn ở miền Nam 18-35%, tỷ lệ nhiễm ở nông thôn cao hơn thành thị, ở đồng bằng cao hơn ở miền núi [28], [33], [48]. Trẻ em là lứa tuổi nhiễm giun đũa cao nhất và nặng nhất, trẻ em dưới 1 tuổi đã nhiễm giun đũa và tỷ lệ nhiễm ở nam và nữ là không có sự khác biệt [49], nguyên nhân là do trẻ em chưa có miễn dịch, chưa biết giữ vệ sinh tốt [47]. Dịch tễ học bệnh giun tóc (Trichuris trichiura) Giun tóc phân bố rộng khắp trên thế giới, sinh thái gần giống với giun đũa nên những vùng có giun đũa là có giun tóc. Bệnh giun tóc liên hệ mật thiết với độ ẩm của đất, nơi bóng cây rậm rạp có điều kiện trứng sống để cho phôi thai xuất hiện.
Trong một ngày, một con giun tóc cái có thể đẻ tới 2.000 trứng, nhiệt độ thích hợp nhất để trứng giun tóc phát triển ở ngoại cảnh là 25-30°C, trên 50°C trứng sẽ bị hỏng. Do có vỏ dày, trứng giun tóc có sức đề kháng cao hơn trứng giun đũa. Trong điều kiện mặt trời chiếu sáng như nhau, trong khi trứng giun đũa bị chết 100% thì trứng giun tóc chỉ bị chết 45%. Trứng giun tóc vẫn có khả năng phát triển trong dung dịch acid chlohydric 10% tới 3 tuần lễ, trong dung dịch acid nitric 10%, formalin 10% tới 9 ngày.
Tuy nhiên cũng như trứng giun đũa, trứng giun tóc dễ bị hỏng dưới tác động của tia tử ngoại hoặc ánh sáng mặt trời [28], [33], [47], [48]. 7 Ở Việt Nam có khí hậu nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho giun sán phát triển, tỷ lệ nhiễm có khác nhau tuỳ vùng: miền Bắc cao nhất 52% và miền Nam thấp hơn 3-5% do miền Nam có khí hậu nắng nóng nhiều trong năm, độ ẩm thấp hơn, người dân không có tập quán sử dụng phân để bón ruộng. Tỷ lệ nhiễm giữa nam và nữ là không khác biệt [49]; trẻ em dưới 1 tuổi hầu như không nhiễm giun tóc, 2-3 tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp, trên 3 tuổi bệnh tăng dần, 35-60 tuổi chưa có biểu hiện giảm tỷ lệ [47], [49]. Dịch tễ học bệnh giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator americanus) Bệnh giun móc/mỏ phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, xứ lạnh ít gặp hơn, tập trung chủ yếu ở các hầm mỏ, nơi nông dân vùng trồng màu, cây công nghiệp như dâu tằm, mía, cà phê, thuốc lá,.[49] do khí hậu nóng ẩm thuận lợi cho sự phát triển của ấu trùng (AT) và lan truyền bệnh quanh năm, thường vào mùa mưa.
Thiếu vệ sinh cá nhân (đi tiêu bừa bãi) và sử dụng phân tươi bón ruộng làm cho đất bị nhiễm rất nhiều ấu trùng giun móc; tập quán chân đất, tay tiếp xúc với đất khi làm việc của những người nông dân và trẻ em tạo điều kiện cho bệnh luôn tái nhiễm. Tình hình nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc 1. Tình hình nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc trên thế giới 1. Tình hình nhiễm giun đũa Trên thế giới ước tính có 25% dân số nhiễm giun đũa và chủ yếu ở vùng nhiệt đới [36].
Trẻ em lứa tuổi học đường nhiễm rất cao, gần một nửa số trứng giun đũa thải ra môi trường là từ trẻ 12-15 tuổi [72]. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, ở các nước châu Âu tỷ lệ nhiễm giun đũa rất cao: ở Bồ Đào Nha là 40-80%; ở Ý tỷ lệ nhiễm là 12-75%; ở vùng nông thôn Hà Lan có nơi 45% nhiễm giun đũa [46], [81]. Sau khi hết chiến tranh, điều kiện kinh tế được cải thiện (mức sống cao, vệ sinh môi trường sạch, 8 không có thói quen sử dụng phân người làm phân bón, phân được xử lý trong các hố xí tự hoại), điều kiện khí hậu lạnh, khô kết hợp với điều trị và phòng bệnh thì tỷ lệ nhiễm giun đũa chỉ còn dưới 1% [53]. Châu Phi và châu Mỹ La tinh có khí hậu nóng ẩm, vấn đề ô nhiễm môi trường cao, đời sống người dân còn thấp nên tỷ lệ nhiễm giun lần lượt là xấp xỉ 12% và 8% [46].
Châu Á có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất, đặc biệt ở Ấn Độ, Indonesia, Myanma, Trung Quốc, Bangladesh nhiều vùng còn tỷ lệ nhiễm trên 50% [28], [47]. Tình hình nhiễm giun tóc Giun tóc có đặc điểm sinh thái tương tự giun đũa, nên nơi nào có giun đũa thì ở nơi đó có giun tóc. Chúng phổ biến ở châu Phi và Đông Nam Á. Theo thống kê của TCYTTG toàn cầu có 1,4 tỷ người nhiễm giun tóc và tử vong là 10.
Số người nhiễm ở Châu Âu, Nam Mỹ là 34 triệu người, Liên Xô cũ trên 27 triệu, châu Phi 28 triệu, đặc biệt là châu Á có 227 triệu [11], [12]. Tình trạng tái nhiễm giun tóc của người lớn cao hơn trẻ em [75]. Tình hình nhiễm giun móc/mỏ Bệnh giun móc p h â n b ố phổ biến ở các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Điều kiện lan truyền phụ thuộc vào nghề nghiệp, yếu tố địa lý, khí hậu [47].
Tỷ lệ nhiễm ở vùng khí hậu ôn hòa và khí hậu lạnh thấp, có những ổ bệnh nghiêm trọng. Ở châu Âu, ở các vùng mỏ than do có nhiệt độ và ẩm độ thích hợp cho mầm bệnh giun móc/mỏ phát triển, những vùng có khí hậu nóng như Ý có tỷ lệ nhiễm 40%, nông dân một số vùng ở Tây Ban Nha có tỷ lệ nhiễm là 34%. Ở châu Phi tỷ lệ nhiễm giun móc thay đổi từ 30-90%. Ở các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới bệnh giun móc/mỏ liên quan tới 9 nông dân trồng hoa màu hoặc cây công nghiệp như dâu tằm, mía, cà phê, thuốc lá.
Theo thống kê của TCYTTG, năm 1964 có hơn 800 triệu người nhiễm giun móc; năm 1995 có số người nhiễm là 1,3 tỷ người số người chết hàng năm là 65. Tình hình nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc ở Việt Nam Việt Nam là một nước nhiệt đới có điều kiện thuận lợi cho trứng giun đường ruột phát triển, bên cạnh đó Việt Nam là một nước nông nghiệp có nền kinh tế đang phát triển, nhiều phong tục và tập quán còn lạc hậu…Vì vậy, tỷ lệ nhiễm giun đường ruột (GĐR) rất cao. Theo các số liệu điều tra không đầy đủ trên cả nước ước tính có khoảng 60 triệu người nhiễm giun đũa, 40 triệu người nhiễm giun tóc, 20 triệu người nhiễm giun móc/mỏ [15]. Tình hình nhiễm giun đũa Theo kết quả điều tra của Viện Sốt rét–Ký sinh trùng–Côn trùng Trung ương bệnh nhiễm giun đũa đứng hàng đầu trong các bệnh GĐR, bệnh phân bố rộng với tỷ lệ phân bố [15], [39], [42], [49]: Miền Bắc: Miền Trung: Vùng đồng bằng: 80-95% Vùng đồng bằng: 70,5% Vùng trung du: 80-90% Vùng núi: 38,4% Vùng núi: 50-70% Vùng ven biển: 12,5% Vùng ven biển: 70% Miền Nam: Vùng đồng bằng: 45-60% Vùng núi: 10-25% Từ những kết quả trên chúng ta có thể thấy được một số đặc điểm: Bệnh giun đũa là bệnh phổ biến, tỉ lệ khoảng 80%; phân bố rộng nhưng không đồng đều giữa các khu vực, nói có tỷ lệ nhiễm cao nhất là đồng bằng; mọi lứa 10 tuổi đều nhiễm giun đũa, điều tra tại cộng đồng tỉnh Quảng Ninh tỷ lệ nhiễm giun là 88,39% [12], học sinh phổ thông cơ sở nội thành Hà Nội (1955) cho kết quả nhiễm giun 62,47% [14], cao nhất là 5-9 tuổi, trẻ nhỏ 4 tháng tuổi đã tìm thấy trứng giun đũa trong phân; tỷ lệ nhiễm cao nhưng cường độ nhiễm không cao; tỷ lệ nhiễm giữa nam và nữ là không có sự khác nhau; tình trạng tái nhiễm rất cao (tỷ lệ tái nhiễm sau 6 tháng là 68%); tỷ lệ nhiễm giun đũa ở miền núi và miền Nam có chiều hướng tăng lên do việc di cư của người dân từ miền xuôi, miền Bắc đến các vùng kinh tế mới, mang theo tập quán dùng phân tươi bón cho ruộng và cây trồng [25], [49].
Tình hình nhiễm giun tóc Sự phân bố của giun tóc tương tự như giun đũa, chủ yếu ở vùng đồng bằng đông người.