Tổng quan nghiên cứu
Khu vực miền Trung Việt Nam luôn là tâm điểm gánh chịu các hình thái thiên tai cực đoan với tần suất cao và cường độ khốc liệt. Tại lưu vực sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị, chuỗi số liệu quan trắc giai đoạn 1977 - 2000 ghi nhận có tới 110 trận lũ xuất hiện, đạt tần suất trung bình 5,33 trận/năm. Trong những năm cực đoan, số lượng trận lũ dao động từ 7 đến 10 trận với biên độ mực nước lũ dâng cao từ 2 m đến 15 m. Biến đổi khí hậu toàn cầu kết hợp cùng địa hình đồi núi dốc đứng đã làm gia tăng tốc độ dòng chảy lũ vượt mức 3 m/s và cường suất lũ đạt từ 100 cm/giờ đến 3000 cm/giờ, đe dọa nghiêm trọng đến an sinh và tài sản của 162.092 người dân trên toàn lưu vực.
Trước thực trạng các giải pháp công trình như đê ngăn lũ hay hồ chứa bộc lộ nhiều hạn chế về kinh phí và tác động môi trường, việc chuyển dịch sang các giải pháp phi công trình dựa trên đánh giá định lượng tính dễ bị tổn thương trở thành yêu cầu cấp thiết. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thủy văn học tập trung nghiên cứu thử nghiệm và hiệu chỉnh các công thức tính toán chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt (Flood Vulnerability Index - FVI) theo mô hình Balica cho 22 xã trọng điểm ngập lụt trên tổng số 44 xã thuộc lưu vực sông Bến Hải.
Nghiên cứu tích hợp chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn, mô hình số độ cao và kịch bản ngập lụt chi tiết nhằm cung cấp cơ sở khoa học định lượng chuẩn xác. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn then chốt, giúp chính quyền địa phương phân loại mức độ rủi ro, tối ưu hóa nguồn lực phòng chống thiên tai và giảm thiểu thiệt hại kinh tế hàng chục tỷ đồng mỗi năm cho tỉnh Quảng Trị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và Viện Giáo dục Tài nguyên Nước UNESCO-IHE. Theo đó, tính dễ bị tổn thương do lũ được định nghĩa là một hàm phụ thuộc vào ba thành phần tương tác: Độ phơi nhiễm (Exposure - E), Tính nhạy (Sensitivity - S) và Khả năng phục hồi (Resilience - R).
Mô hình nghiên cứu trọng tâm áp dụng là phương pháp đánh giá đa chiều Balica (2007 - 2012), tích hợp 4 nhóm thành phần cơ bản gồm: Xã hội, Kinh tế, Môi trường và Vật lý. Chỉ số FVI tổng hợp được xác định thông qua giá trị trung bình của 4 thành phần thành phần:
FVI = (FVI_xã hội + FVI_kinh tế + FVI_môi trường + FVI_vật lý) / 4
Từ bộ hơn 70 tiêu chí ban đầu của Balica, nghiên cứu đã tiến hành sàng lọc, chuẩn hóa và thiết lập bộ 34 tiêu chí đặc thù phù hợp với điều kiện tự nhiên, hạ tầng và dân sinh thực tế của lưu vực sông Bến Hải.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng gồm dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao gồm Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Trị năm 2016, Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010, mô hình số độ cao DEM độ phân giải 30 m x 30 m và chuỗi số liệu quan trắc mưa - dòng chảy từ 3 trạm thủy văn Gia Vòng, Đông Hà, Cửa Việt. Dữ liệu sơ cấp được trích xuất từ 470 phiếu điều tra xã hội học thuộc đề tài cấp nhà nước BĐKH-19.
Phương pháp chọn mẫu khảo sát áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng đại diện tại các hộ dân sinh sống ở 22 xã vùng ngập lũ xung yếu, phản ánh đầy đủ cơ cấu kinh tế và điều kiện sinh kế của 162.092 cư dân. Dữ liệu sau thu thập được xử lý chuẩn hóa theo hai hướng tiếp cận: phương pháp Balica (thang đo 0 - 1) và phương pháp Connor & Hiroki (phân tách biến thuận - nghịch). Trọng số của 34 tiêu chí được xác định thông qua thuật giải Iyengar - Sudarshan dựa trên nghịch đảo phương sai. Lý do lựa chọn thuật toán này là nhằm triệt tiêu tính định kiến chủ quan của chuyên gia, đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan toán học cho các biến số đa chiều. Sau đó, công nghệ GIS được ứng dụng để liên kết dữ liệu thuộc tính và phân tích không gian Raster.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu đã định lượng hóa mức độ tổn thương và phân loại cụ thể cho 22 xã ngập lụt trên lưu vực sông Bến Hải. Kết quả chỉ ra sự phân hóa không gian sâu sắc giữa các tiểu vùng:
- Nhóm có mức độ tổn thương cao tập trung tại các vùng hạ lưu trũng thấp và ven biển. Thị trấn Cửa Tùng ghi nhận chỉ số FVI đạt 0,71 (mức cao), xã Gio Châu đạt 0,69 và xã Trung Sơn đạt 0,63. Đây là các khu vực có tỷ lệ ngập sâu kết hợp cùng mật độ tài sản và dân cư tập trung lớn.
- Nhóm có mức độ tổn thương rất thấp và thấp phân bố chủ yếu ở khu vực đồi cao, thoát nước nhanh như xã Vĩnh Thủy (FVI = 0,12), xã Vĩnh Long (FVI = 0,13) và xã Vĩnh Hòa (FVI = 0,17).
- Về thành phần xã hội: Thị trấn Hồ Xá và thị trấn Cửa Tùng có giá trị FVI xã hội cao nhất lưu vực (đạt từ 1,41 đến 1,97) do mật độ dân số tại Hồ Xá lên tới 1.674 người/km², gấp hơn 11 lần so với mật độ trung bình toàn lưu vực là 148 người/km².
- Về thành phần kinh tế: Có 3 trên 22 xã (chiếm tỷ lệ 14%) gồm Gio Mai, Gio Châu và Gio Quang có chỉ số FVI kinh tế vượt ngưỡng 0,80 do phụ thuộc lớn vào sản xuất nông nghiệp dễ bị tàn phá và hệ thống kho bãi, chuồng trại kém kiên cố.
Thảo luận kết quả
Sự biến thiên của chỉ số FVI phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa đặc điểm tự nhiên và cấu trúc dân sinh. Tại các xã ven sông như Cam An, độ sâu ngập lũ đạt cực đại lên tới 3,52 m với thời gian ngập kéo dài trên 67 giờ, làm tê liệt hoàn toàn mạng lưới giao thông và gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt nghiêm trọng. Đáng chú ý, hiện trạng rừng phòng hộ đầu nguồn đang ở mức báo động khi diện tích rừng tự nhiên giàu và trung bình chỉ chiếm 2,75% (7,802 km²), trong khi diện tích trảng cây bụi và đất trống chiếm tới 68,38% (194 km²), làm giảm sút nghiêm trọng khả năng giữ nước mặt khi xảy ra mưa lớn kéo dài.
Khi so sánh giữa hai phương pháp chuẩn hóa dữ liệu, kết quả tính toán theo Connor & Hiroki và Balica cho thấy độ tương đồng cao trên 85% về thứ hạng phân cấp rủi ro. Đồng thời, kết quả này hoàn toàn tương thích với mô hình UNESCO-IHE trong đề tài BĐKH-19 nhưng vượt trội hơn nhờ khả năng bóc tách chi tiết 4 khía cạnh: Xã hội, Kinh tế, Môi trường và Vật lý. Toàn bộ các phát hiện này được trình bày trực quan thông qua bảng ma trận trọng số 34 chỉ tiêu và hệ thống bản đồ phân vùng FVI chuyên đề trên nền tảng ArcGIS, tạo tiền đề thuận lợi cho việc tra cứu và ứng dụng quản lý rủi ro.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả định lượng FVI, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm giảm thiểu rủi ro lũ lụt trên lưu vực sông Bến Hải:
- Nâng cấp và kiên cố hóa hạ tầng phòng chống lũ trọng điểm: Thực hiện gia cố 100% các đoạn đê bao, cống tiêu thoát lũ xung yếu tại các xã có nguy cơ cao như Trung Sơn, Gio Mai và thị trấn Cửa Tùng. Mục tiêu giảm thời gian ngập úng từ 20% đến 30% trong giai đoạn 2020 - 2025, do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Trị chủ trì thực hiện.
- Phục hồi và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn: Đẩy mạnh các dự án trồng rừng bản địa, nâng tỷ lệ che phủ rừng tự nhiên giàu và trung bình từ mức 2,75% hiện nay lên tối thiểu 15% diện tích lưu vực vào năm 2030, do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị phối hợp cùng các Ban Quản lý rừng phòng hộ triển khai.
- Chuyển đổi mô hình sinh kế thích ứng lũ: Hỗ trợ người dân tại 9 xã huyện Gio Linh và 10 xã huyện Vĩnh Linh chuyển đổi lịch thời vụ nông nghiệp, đưa vào sản xuất các giống cây trồng ngắn ngày chịu ngập và mô hình thủy sản an toàn, phấn đấu giảm tỷ lệ thiệt hại mùa màng xuống dưới 15% tổng giá trị sản xuất hàng năm.
- Hiện đại hóa hệ thống cảnh báo sớm và nâng cao năng lực cộng đồng: Thiết lập bổ sung 5 trạm đo mưa tự động tại thượng nguồn và tổ chức tập huấn kỹ năng ứng phó thiên tai định kỳ cho ít nhất 80% hộ gia đình tại 22 xã ngập lụt trước mùa mưa bão tháng IX hàng năm, dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:
- Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai: UBND tỉnh Quảng Trị và các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ sử dụng bộ bản đồ phân vùng FVI làm căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch sơ tán dân cư, phân bổ ngân sách cứu trợ và lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 cho 44 xã trên địa bàn.
- Các nhà khoa học và học viên chuyên ngành Khí tượng, Thủy văn, Biến đổi khí hậu: Kế thừa quy trình thử nghiệm công thức Balica, phương pháp chuẩn hóa dữ liệu đa biến và thuật giải Iyengar - Sudarshan để mở rộng nghiên cứu cho các hệ thống sông ngòi khác tại miền Trung.
- Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển cộng đồng: Các tổ chức như UNDP hoặc Hội Chữ thập đỏ khai thác 470 bộ dữ liệu khảo sát thực địa để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế bền vững, xây dựng nhà chống lũ an toàn cho nhóm cư dân nghèo ven biển.
- Đơn vị tư vấn quy hoạch và thiết kế công trình thủy lợi: Ứng dụng các thông số ngập lũ thực nghiệm (độ sâu 3,52 m, vận tốc dòng chảy 3 m/s) để tính toán quy chuẩn xây dựng đường giao thông nông thôn, khẩu độ cống và đê bao ngăn lũ.
Câu hỏi thường gặp
1. Chỉ số tổn thương do lũ lụt FVI theo công thức Balica có ưu điểm gì vượt trội?
Công thức Balica tích hợp toàn diện 4 trụ cột gồm Xã hội, Kinh tế, Môi trường và Vật lý thông qua 3 thành phần động là Phơi nhiễm, Nhạy cảm và Phục hồi. Việc lượng hóa đồng thời 34 tiêu chí giúp các nhà quản lý nhìn nhận rủi ro đa chiều thay vì chỉ tập trung vào yếu tố thủy văn đơn thuần.
2. Tại sao nghiên cứu lại lựa chọn thuật giải Iyengar - Sudarshan để tính trọng số?
Thuật giải Iyengar - Sudarshan tính toán trọng số dựa trên nghịch đảo phương sai của các biến số đã chuẩn hóa. Phương pháp này đảm bảo tính khách quan tuyệt đối về mặt toán học, loại trừ hoàn toàn sự thiên vị hoặc đánh giá cảm tính của chuyên gia khi xử lý tập dữ liệu lớn từ 470 phiếu điều tra.
3. Đặc trưng tự nhiên nào tại lưu vực sông Bến Hải khiến lũ lụt diễn biến phức tạp?
Lưu vực có độ dốc địa hình lớn từ đỉnh Trường Sơn đổ ra biển, thảm phủ rừng giàu chỉ đạt 2,75% trong khi đất cây bụi chiếm 68,38%. Lũ tập trung cao điểm vào tháng X (chiếm 44,8% số trận lũ năm) với cường suất dâng nhanh tới 3000 cm/giờ và vận tốc dòng chảy vượt 3 m/s.
4. Những địa phương nào trên lưu vực sông Bến Hải có mức độ tổn thương do lũ cao nhất?
Thị trấn Cửa Tùng (FVI = 0,71), xã Gio Châu (FVI = 0,69) và xã Trung Sơn (FVI = 0,63) là ba địa bàn có chỉ số tổn thương cao nhất. Nguyên nhân do các xã này nằm ở vùng trũng hạ lưu, chịu tác động triều cường làm chậm thoát lũ và có mật độ dân cư tập trung đông đúc.
5. Kết quả của luận văn có thể áp dụng cho các lưu vực sông khác tại miền Trung không?
Khung phương pháp luận chuẩn hóa dữ liệu kết hợp mô hình Balica và công nghệ GIS hoàn toàn có thể nhân rộng cho các lưu vực lân cận như sông Thạch Hãn hay sông Hương. Bộ tiêu chí có thể tùy biến linh hoạt dựa trên 100% dữ liệu thống kê và đặc thù địa lý của từng địa phương.
Kết luận
- Luận văn đã xây dựng thành công bộ 34 tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt đặc thù cho lưu vực sông Bến Hải từ bộ tiêu chí gốc của Balica.
- Ứng dụng chuẩn hóa dữ liệu và thuật giải Iyengar - Sudarshan giúp xác định trọng số khách quan, tích hợp công nghệ GIS biên tập hệ thống bản đồ FVI chi tiết cho 22 xã ngập lụt.
- Định lượng chính xác mức độ tổn thương trên toàn lưu vực với chỉ số FVI dao động từ 0,12 (Vĩnh Thủy) đến 0,71 (Cửa Tùng), chỉ rõ 3 địa bàn trọng điểm có nguy cơ rất cao.
- Đóng góp luận cứ khoa học vững chắc khẳng định tính khả thi của mô hình Balica trong điều kiện dữ liệu điều tra thực địa còn nhiều thách thức tại Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ giai đoạn 2020 - 2030 nhằm bảo vệ an toàn tính mạng và sinh kế cho 162.092 người dân.
Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2025 đến 2030, hướng nghiên cứu cần tiếp tục cập nhật dữ liệu viễn thám độ phân giải cao và tích hợp các kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu để phục vụ công tác quy hoạch thủy lợi và quản lý rủi ro thiên tai bền vững.