CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CHỐNG THẤM CÁC LOẠI BÊ TÔNG TRONG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VÀ GIỚI THIỆU CÔNG TRÌNH BẢN MÒNG 1. KHÁI NIỆM VỀ CƯỜNG ĐỘ VÀ TÍNH THẤM NƯỚC CỦA BÊ TÔNG 1. Khái niệm chung Bê tông là loại vật liệu đá nhân tạo nhận được bằng cách đổ khuôn và làm rắn chắc một hỗn hợp hợp lí bao gồm chất kết dính, nước, cốt liệu (cát, sỏi hay đá dăm) và phụ gia. Thành phần hỗn hợp bê tông phải đảm bảo sao cho sau một thời gian rắn chắc phải đạt được những tính chất cho trước như cường độ, độ chống thấm v.
Hỗn hợp nguyên liệu mới nhào trộn gọi là hỗn hợp bê tông hay bê tông tươi. Hỗn hợp bê tông sau khi cứng rắn, chuyển sang trạng thái đá được gọi là bê tông Trong bê tông, cốt liệu đóng vai trò là bộ khung chịu lực. Hồ chất kết dính bao bọc xung quanh hạt cốt liệu, chúng là chất bôi trơn, đồng thời lấp đầy khoảng trống và liên kết giữa các hạt cốt liệu. Sau khi cứng rắn, hồ chất kết dính gắn kết các hạt cốt liệu thành một khối tương đối đồng nhất và được gọi là bê tông.
Ưu điểm lớn nhất của bê tông chính là cường độ chịu nén cao. Tuy nhiên một trong những nhược điểm của bê tông là tính thấm (bê tông bị nước thấm qua). Điều này gây ăn mòn cốt thép trong bê tông và phá hoại kết cấu bê tông, giảm tuổi thọ công trình. Cường độ nén và tính thấm của bê tông có mối tương quan nhất định, thông thường khi cường độ bê tông cao, bê tông có tính đặc chắc, hàm lượng lỗ rỗng mao quan nhỏ, khí đó khả năng chống thấm của bê tông tốt hơn.
Ngược lại, cường độ nén của bê tông thấp, chứng tỏ kết cấu bê tông kém đặc chắc, sự hình thành lỗ rỗng lớn và mao quản là cao hơn (chưa xét đến biện pháp thi công và phương pháp đầm chặt hỗn hợp bê tông), khi đó nước rất dễ thấm qua bê tông hay khả năng chống thấm của bê tông kém. Các công trình thủy lợi sử dụng chủ yếu là bê tông khối lớn (BTĐL và bê tông cát nghiền.), một trong những yêu cầu của bê tông khối lớn là hạn chế 5 nhiệt thủy hóa trong bê tông tránh gây nứt kết cấu và phá hoại công trình, dó đó bê tông sử dụng chủ yếu là bê tông mác thấp tuổi dài ngày, và sử dụng các loại xi măng có nhiệt thủy hóa thấp. Lượng dùng xi măng trong HHBT cũng giảm so với thông thường. Mác bê tông thấp đồng nghĩa với mác thấm của bê tông giảm.
Vì vậy, cần nghiên cứu và đưa ra những đánh giá về sự tương quan giữa cường độ nén và khả năng chống thấm của bê tông ứng dụng nâng cao khả năng chống thấm cho các công trình thủy lợi. Khái niệm về cường độ ( R) của bê tông Khả năng chịu lực của bê tông được xác định thông qua cường độ chịu nén của mẫu. Mẫu nén có thể là mẫu lập phương hoặc mẫu trụ. Xác định cường độ chịu nén theo TCVN 3118:1993 Cường độ nén từng viên mẫu bê tông (R) được tính bằng daN/cm2(Kg/cm2) được tính theo công thức sau: P R =α F Trong đó : - P là tải trọng phá hoại, tính bằng daN; - F diện tích chịu lực của viên mẫu, tính bằng cm2; - a Hệ số tính đổi kết quả thử nén viên mẫu bê tông kích thước viên chuẩn về cường độ của viên mẫu chuẩn kích thước 150x150x150mm Giá trị a lấy theo bảng 1.1 Hệ số quy đổi đối với từng mẫu Hình dáng và kích thước của mẫu(mm) Hệ số tính đổi - Mẫu lập phương 100x100x100 0.10 6 Hình dáng và kích thước của mẫu(mm) Hệ số tính đổi - Mẫu trụ 71,4X143 và 100x200 1.
Khái niệm về hệ số thấm ( Kt) của bê tông Theo tài liệu “ ACI 116R-90 Cement and Concrete Terminology”, hệ số thấm được định nghĩa là tốc độ nước chẩy ra thành dòng qua một đơn vị diện tích của vật liệu xốp (ở đây bê tông cũng được coi là vật liệu xốp) dưới một đơn vị građien thủy lực ở nhiệt độ tiêu chuẩn (Điều kiện Việt Nam là 27oC ± 2oC). Kt được tính theo công thức Darcy có dạng như sau: Vn a Kt = , m/giờ; S(P1 − P2 ).t Trong đó: Vn – Thể tích nước thấm qua khối bê tông, m3; a- Chiều dầy khối bê tông, m; S – Diện tích tiết diện của khối bê tông mà nước thấm qua, m2; P1, P2 – Áp suất thủy tĩnh ở hai mặt khối bê tông, mét cột nước; t- Thời gian nước thấm qua mẫu bê tông, giờ; 1. Khái niệm về mác chống thấm (B) của bê tông Mác chống thấm là khả năng của bê tông không cho nước thấm qua dưới áp lực thủy tĩnh. Khi thí nghiệm xác định độ chống thấm của tổ mẫu (6 viên hình trụ, kích thước 150 x 150 mm ) là cấp áp lực lớn nhất mà ở trong đó 4 trong 6 viên mẫu chưa bị nước thấm qua.
Từ áp lực nước mà ở đó 4 trong 6 viên đã bị thấm nước (áp lực mà tại đó dừng việc thử) trừ đi 2 sẽ cho mác chống thấm của bê tông B. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG NÂNG CAO KHẢ NĂNG CHỐNG THẤM CHO BÊ TÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN THẾ GIỚI Bê tông đầm lăn (BTĐL) là bước phát triển đột phá trong công nghệ đập bê tông khối lớn. Ưu điểm nổi bật của BTĐL là sử dụng ít xi măng, chỉ bằng khoảng 25-30% so với bê tông thường, tốc độ thi công nhanh, nên giảm giá thành, đạt hiệu quả kinh tế cao. Nhược điểm của BTĐL là chống thấm kém.
Vì vậy, các đập bê tông đầm lăn kiểu cũ chỉ sử dụng BTĐL làm lõi đập, bao bọc xung quanh là lớp vỏ bê tông thường chống thấm dày 2 - 3 m. Kết cấu đập kiểu này thường gọi là “vàng bọc bạc”. Nó được sử dụng phổ biến ở hầu hết các nước cho đến cuối thế kỷ XX. Xu thế sử dụng bê tông đầm lăn chống thấm thay cho bê tông thường được hình thành và phát triển mạnh ở Trung Quốc từ những năm 90 của thế kỷ XX.
Năm 1989, Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới xây dựng thành công đập trọng lực Thiên Sinh Kiều, cao 61 m, hoàn toàn bằng bê tông đầm lăn. Tính đến 2004, Trung Quốc có hơn 10 đập bê tông mới kiểu này. Việc sử dụng BTĐL chống thấm thay cho bê tông thường đem lại hiệu quả kinh tế cao nhờ đơn giản hoá quá trình thi công. Việt Nam bắt đầu nghiên cứu BTĐL từ những năm 90 của thế kỷ XX.
Năm 2003, Việt Nam khởi công xây dựng đập bê tông đầm/;;’’; lăn đầu tiên, đập thủy điện Pleikrong, cao 71m, kết cấu “vàng bọc bạc”. Vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu áp dụng BTĐL chống thấm cao thay cho bê tông thường để xây dựng đập bê tông trọng lực. Ví dụ: BTĐL công trình thủy lợi Nước Trong ( đang xây dựng) dùng mác R90150B2 và R90200B6. Nhiều công trình thủy điện dùng BTĐL chống thấm cao như thủy điện Sơn La ( mác R 365 200 CT10) , đang thiết kế thi công thủy điện Bản Vẽ, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4 và A Vương hoàn toàn BTĐL có độ chống thấm B6 đến B8.
Trung Quốc đã xây dựng thành công hàng chục công trình đập BTĐL cao từ 57 đến 132 m, sử dụng BTĐL chống thấm cấp phối 2 thay bê tông thường, cường độ phổ biến 20 MPa, chống thấm đến B12 (bảng 1.2 Chiều dày lớp chống thấm BTĐL cấp phối 2 ở một số đập của Trung Quốc Chiểu dày Chiều Mác bê tông Tỷ lệ Tên công lớp chống TT Loại đập cao đập và mác với cột trình thấm lớn ( m) chống thấm nước nhất (m) 1 Giang Á Trọng lực 131 R90 20B12 8 1/15 Miên Hoa 2 nt 113 R90 20B8 7 1/15 Than 3 Đại Triều Sơn nt 111 R90 20B8 7 1/15 4 Bách Sắc nt 130 R90 20B8 8 1/20 Hồ chứa số 2 5 nt 88 R90 20B8 4 1/20 sông Phân Hà 6 Thông Kê nt 86,5 R90 20B6 5 1/15 7 Sơn Tử nt 64,6 R90 10B6 4 1/15 8 Song Kê nt 60 R180 20B6 3 1/15 9 Cao Châu nt 57 R90 20B6 4 1/12 10 Vinh Địa nt 57 R90 10B6 4 1/12 11 Phổ Đinh vòm kép 75 R90 20B6 6,5 1/10,6 12 Sa Bài vòm đơn 132 R90 20B8 11 1/10,5 13 Long Thư vòm kép 80 R90 20B8 6,5 1/12 14 Lậm Hà Khẩu vòm kép 100 R90 20B8 6 1/15 Kết quả thí nghiệm trong phòng của Công ty kiểm định vật liệu thuộc Hiệp hội xi măng Canada tổng hợp ở bảng 2 cho thấy có thể chế tạo BTĐL chất lượng cao (high performance roller compacted concrete) để làm đường, cường độ trên 40MPa, hệ số thấm rất nhỏ, khoảng 10-13 m/s. Kết quả đánh giá BTĐL và bê tông thường để làm đường Chỉ tiêu Đơn vị BTĐL BT thường 1. Thành phần cấp phối - xi măng kg/m3 300 360 - Nước l/m 3 104 155 3 - Cát kg/m 849 815 - Đá 5-14mm kg/m3 1222 1010 - Phụ gia giảm nước CATEXOL1000N l/m3 0,6 - - Phụ gia cuốn khí DAREX-EH l/m3 - 0,047 - Phụ gia giảm nước BRDA-20 l/m3 - 0,576 3 - Phụ gia siêu dẻo ADVA 140 l/m - 0,418 2. Tính chất hỗn hợp bê tông - Chỉ số Vebe sau 10 phút sec 60 - - Chỉ số Vebe sau 30 phút sec 90 - 3 - Dung trọng kg/m 2476 2327 - Hàm lượng khí % - 7,0 - Độ sụt mm - 20 3.
Tính chất bê tông đóng rắn - Cường độ nén 3 ngày MPa 44,9 30,4 - Cường độ nén 7 ngày MPa 57,0 34,9 - Cường độ nén 28 ngày MPa 66 44,8 - Cường độ uốn 3 ngày MPa 5,6 5,0 - Cường độ uốn 7 ngày MPa 7 4,9 - Cường độ uốn 28 ngày MPa 8,3 5,5 - Độ hút nước % 2,4 5,1 - Độ rỗng % 6,0 11,2 - Hệ số thấm m/s 5,0 x10-13 0,1 x 10-13 đến 14,0 đến 9,0 x x 10-13 10-13 10 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG NÂNG CAO KHẢ NĂNG CHỐNG THẤM CHO BÊ TÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI Ở VIỆT NAM.