Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về các nguyên tố đất hiếm và khả năng tạo phức của chúng 1. Đặc điểm chung của các nguyên tố đất hiếm (NTĐH) Các nguyên tố đất hiếm (NTĐH) bao gồm 3 nguyên tố thuộc nhóm IIIB là scandi (21Sc), ytri (39Y), lantan (57La) và các nguyên tố lantanit. Các lantanit bao gồm các nguyên tố có số thứ tự từ 58 đến 71 được xếp vào cùng một ô với lantan, đó là: xeri (58Ce), praseodim (59Pr), neodim (60Nd), prometi (61Pm), samari (62Sm), europi (63Eu), gadolini (64Gd), tecbi (65Tb), dysprosi (66Dy), honmi (67Ho), ecbi (68Er), tuli (69Tm), ytecbi (70Yb), và lutexi (71Lu).
Cấu hình electron chung của nguyên tử lantanit là: 1s22s22p63s23p63d104s24p64d104fn5s25p65dm6s2 Trong đó: n nhận giá trị từ 0 đến 14 m nhận giá trị 0 hoặc 1 Dựa vào cách điền electron vào obitan 4f, các nguyên tố lantanit được chia thành hai nhóm [16]: Nhóm xeri (nhóm lantanit nhẹ): gồm 7 nguyên tố đầu từ Ce đến Gd có electron điền vào các obitan 4f theo quy tắc Hund: Ce Pr Nd Pm Sm Eu Gd 4f2 4f3 4f4 4f5 4f6 4f7 4f75d1 Nhóm tecbi (nhóm lantanit nặng): gồm 7 nguyên tố còn lại, từ Tb đến Lu có electron thứ hai lần lượt điền vào các obitan 4f: Tb Dy Ho Er Tm Yb Lu 4f7+2 4f7+3 4f7+4 4f7+5 4f7+6 4f7+7 4f7+75d1 Trong các lantanit, electron lần lượt được điền vào phân lớp 4f và đều có 2 electron lớp ngoài cùng (6s2). Những dữ kiện quang phổ cho biết, phân lớp 4f và 5d có năng lượng gần nhau nhưng phân lớp 4f thuận lợi về mặt năng lượng 2 hơn. Do đó, chỉ với kích thích nhẹ có thể chuyển 1 hoặc 2 electron từ phân lớp 4f sang phân lớp 5d, những electron còn lại bị chắn bởi các electron 5s25p6 bên ngoài nên các electron f ít tham gia vào sự tạo thành liên kết hóa học và không có ảnh hưởng quan trọng đến tính chất hóa học của đa số các lantanit. Như vậy, tính chất hóa học của các lantanit rất giống nhau, đều phụ thuộc chủ yếu vào các electron 5d16s2 và giống nhiều với các nguyên tố d nhóm IIIB.
Ngoài các tính chất đặc biệt giống nhau, các lantanit từ Ce đến Lu cũng có những tính chất biến đổi đều đặn và một số tính chất biến đổi tuần hoàn [16]: Sự biến đổi đều đặn các tính chất được giải thích bằng sự co lantanit, là sự giảm bán kính nguyên tử của chúng theo chiều tăng của số thứ tự nguyên tử. Điện tích hạt nhân tăng dẫn đến lực hút các electron lớp ngoài (n = 5 và n = 6) tăng, làm cho bán kính nguyên tử giảm. Sự co lantanit làm cho nguyên tử của các nguyên tố đứng sau La-Lu trong cùng chu kì 6 có bán kính không khác mấy so với nguyên tố cùng nhóm trong chu kì 5 [16]. Sự biến đổi tuần hoàn tính chất của các lantanit và hợp chất của chúng được giải thích bằng việc điền electron vào các obitan 4f, được thể hiện thông qua mức oxi hóa, màu sắc ion.
Số oxi hóa bền và đặc trưng của đa số lantanit là +3. Tuy nhiên, những nguyên tố đứng gần La (4f0), Gd (4f7), Lu (4f14) có số oxi hóa biến đổi. Ví dụ Ce (4f26s2), Pr (4f36s2), Tb (4f95d06s2) dễ mất 4 electron để chuyển lên mức oxi hóa +4. Tuy nhiên Ce dễ dàng chuyển mức oxi hóa từ +3 lên +4 hơn so với Pr và Tb.
Nói cách khác, số oxi hóa +4 của Ce đặc trưng hơn. Ngược lại, các nguyên tố có phân lớp 4f đầy hay đầy một nửa electron như Eu (4f96s2), Yb(4f146s2), Sm (4f66s2), Tm (4f136s2) đều có thể có số oxi hóa +2, trong đó Eu+2 bền nhất, còn Sm+2 và Tm+2 kém bền nhất [6]. Màu sắc của các ion lantanit biến đổi một cách có quy luật theo độ bền tương đối của trạng thái 4f: La3+ (4f0) không màu Tb3+ (4f8) hồng nhạt 3 Ce3+ (4f1) không màu Dy3+ (4f9) vàng nhạt Pr3+ (4f2) lục vàng Ho3+ (4f10) vàng đỏ Nd3+ (4f3) tím hồng Er3+ (4f11) hồng Pm3+ (4f4) hồng nhạt Tm3+ (4f12) lục nhạt Sm3+ (4f5) vàng Yb3+ (4f13) không màu Eu3+ (4f6) hồng nhạt Lu3+ (4f14) không màu Gd3+ (4f7) không màu Về mặt hóa học, các nguyên tố lantanit là những kim loại hoạt động, chỉ kém kim loại kiềm và kim loại kiềm thổ. Trong đó, các nguyên tố phân nhóm nhẹ hoạt động mạnh hơn các nguyên tố phân nhóm nặng [16]: Kim loại dạng tấm bền trong không khí khô.
Trong không khí ẩm, kim loại bị mờ đục nhanh chóng vì bị phủ màng cacbonat bazơ được tạo nên do kim loại tác dụng với hơi nước và khí cacbonic. Ở 200 ÷ 4000C, các lantanit cháy trong không khí tạo thành các oxit và nitrua. Xeri và một vài lantanit khác có tính tự cháy. Các nguyên tố lantanit tác dụng được với halogen, C, S, Si, P và H2 khi đun nóng; tác dụng chậm với nước nguội nhưng nhanh với nước nóng; dễ tan trong các axit loãng như HNO3, HCl, H2SO4, CH3COOH,… (trừ HF và H3PO4 do tạo các muối ít tan ngăn cản khả năng phản ứng) tạo thành dung dịch muối Ln(III).
Các lantanit có thể khử được oxit của nhiều kim loại như mangan, sắt,… ở nhiệt độ cao. Xeri ở nhiệt độ nóng đỏ có thể khử được CO, CO2 đến C. Giới thiệu về các NTĐH tecbi (Tb), dysprosi (Dy), tuli (Tm), ytecbi (Yb) Tecbi, dysprosi, tuli, ytecbi đều thuộc nhóm đất hiếm nặng; là các kim loại màu trắng bạc, mềm dẻo, dễ uốn và hoạt động hóa học mạnh. Một số thông số vật lí quan trọng của Tb, Dy, Tm, Yb được trình bày ở bảng 1.
Một số thông số vật lí quan trọng của 4 NTĐH (Tb, Dy, Tm, Yb) NTĐH Tecbi Dysprosi Tuli Ytecbi Thông số vật lí (Tb) (Dy) (Tm) (Yb) Số thứ tự nguyên tử 65 66 69 70 Khối lượng nguyên tử (g/mol) 158,9 162,5 168,9 173,0 Bán kính nguyên tử (Å) 1,782 1,773 1,746 1,940 Bán kính ion Ln3+ (Å) 0,923 0,908 0,899 0,858 Nhiệt độ nóng chảy (0C) 1368 1380 1600 824 Nhiệt độ sôi (0C) 2480 2330 1720 1320 1. Khả năng tạo phức của các nguyên tố đất hiếm Các nguyên tố đất hiếm có khả năng tạo phức với các phối tử vô cơ và hữu cơ do có nhiều obitan 4f trống. Tuy nhiên, các electron phân lớp 4f bị chắn mạnh bởi các electron lớp ngoài cùng và các ion Ln3+ có kích thước lớn làm giảm lực hút tĩnh điện giữa chúng với các phối tử nên so với các nguyên tố họ d thì khả năng tạo phức của các NTĐH kém hơn. Khả năng tạo phức của các NTĐH chỉ tương đương với các kim loại kiềm thổ, chúng có thể tạo phức chất không bền với những phối tử vô cơ như: Cl , CN , NH3 , NO3 , SO24 ,.
Liên kết trong phức chất chủ yếu do lực hút tĩnh điện. Trong dung dịch loãng những phức chất này phân ly hoàn toàn, trong dung dịch đặc chúng kết tinh ở dạng muối kép. Trên thực tế, người ta quan tâm hơn đến phức chất bền của NTĐH với các phối tử hữu cơ, đặc biệt là những phối tử nhiều càng. Phối tử có dung lượng phối trí càng lớn và điện tích âm càng lớn (như axit xitric, axit tactric, axit aminopoliaxetic, các β-đixeton,…) thì phức chất tạo ra càng bền [16].
Ví dụ, giá trị lgk (k là hằng số bền) của phức chất giữa NTĐH với EDTA vào khoảng 15 ÷ 19, còn với DTPA khoảng 22 ÷ 23. 5 Trong phức chất, các NTĐH thường có số phối trí cao và thay đổi. Trước năm 1960, người ta cho rằng các ion đất hiếm có số phối trí 6. Tuy nhiên, những nghiên cứu thực nghiệm sau đó đã cho thấy các ion đất hiếm thường có số phối trí lớn hơn 6 thậm chí là 12.
Thật vậy, trong phức chất [Pr(C8H6N2)6](ClO4)3 (C8H6N2: 1,8-naphthyridine) Pr(III) có số phối trí 12 [24]. Tính không định hướng và không bão hòa của liên kết ion là phù hợp với đăc trưng này của NTĐH. Bản chất của liên kết ion được giải thích bằng các obitan ở phân lớp 4f của NTĐH chưa được lấp đầy và bị chắn bởi các electron 5s và 5p nên các phối tử khó có khả năng cho electron để tạo nên liên kết cộng hóa trị [22]. Từ Ce3+ đến Lu3+, theo chiều giảm dần bán kính ion, độ bền của những phức chất vòng càng này tăng lên.
Ví dụ, hằng số bền của các EDTA – đất hiếm biến đổi từ 1015 đối với Ce đến 1019 đối với Lu. Khi tạo phức, ion Ln3+ làm biến đổi cấu tạo phân tử của phối tử nhiều càng như góc giữa liên kết và độ dài của các liên kết. Bởi vậy, sự khác nhau tuy rất ít về bán kính của các ion trong dãy lantanit cũng có ảnh hưởng rất mạnh đến các phức chất vòng càng [16]. Axit cacboxylic và cacboxylat kim loại 1.
Đặc điểm cấu tạo và khả năng tạo phức của các axit monocacboxylic Axit monocacboxylic Axit monocacboxylic là các axit cacboxylic mà trong phân tử chỉ có một nhóm cacboxyl. Chúng có công thức cấu tạo chung là: Phân tử axit cacboxylic gồm hai phần: nhóm cacboxyl (–COOH) và gốc hiđrocacbon (–R). Nhóm cacboxyl là sự tổ hợp của nhóm cacbonyl (C=O) và nhóm hiđroxyl (–OH). Hai nhóm chức này có sự ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau do có hiệu ứng liên hợp giữa electron π trong liên kết đôi của nhóm C=O và electron tự do của nguyên tử oxi trong nhóm OH, làm cho liên kết O–H trong 6 nhóm cacboxyl phân cực mạnh hơn so với ở ancol, đồng thời liên kết hiđro cũng mạnh hơn.
Do đó, các axit có thể tồn tại ở dạng đime vòng do tạo liên kết hiđro: hoặc ở dạng polime: Do đó, nhiệt độ sôi và nhiệt độ nóng chảy của các axit cacboxylic cao hơn hẳn so với các dẫn xuất halogen và ancol có cùng số nguyên tử cacbon. Khả năng tan trong nước của axit cacboxylic tốt hơn ancol có cùng số nguyên tử cacbon do phân tử axit tạo liên kết hiđro mạnh và bền hơn so với ancol. Khi số nguyên tử cacbon trong gốc hiđrocacbon tăng lên thì độ tan trong nước của axit cacboxylic giảm xuống vì gốc hiđrocacbon tăng làm tăng tính kị nước của chúng. Tính chất đặc trưng của axit cacboxylic phụ thuộc vào nhóm chức – COOH.
Do hiệu ứng liên hợp p-π mà liên kết O–H trong axit cacboxylic phân cực mạnh và làm cho chúng dễ bị proton hóa hơn ancol. Tuy nhiên chúng đều là các axit yếu (Ka ≈ 10-5). Tính axit của axit cacboxylic phụ thuộc nhiều vào hiệu ứng electron của gốc hiđrocacbon. Gốc hiđrocacbon càng hút electron thì liên kết O–H càng dễ tách, tính axit càng mạnh.
Ngược lại, nếu gốc hiđrocacbon đẩy electron thì H kém phân li, tính axit càng yếu.