Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Phan – Cà Lồ đoạn qua tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên 71.001 ha (tương đương 710 km²), chiếm gần 2/3 tổng diện tích toàn tỉnh và là nơi sinh sống của 823.529 người dân với mật độ dân số cao 1.160 người/km². Đây là địa bàn phát triển kinh tế trọng điểm với 2.365 ha đất công nghiệp phân bổ tại nhiều khu công nghiệp lớn như Khai Quang, Bình Xuyên, Bá Thiện. Tuy nhiên, tình trạng ngập úng tại khu vực diễn ra vô cùng phức tạp khi thống kê trong 25 năm từ năm 1990 đến năm 2014 cho thấy có tới 20 năm bị úng ngập nặng, trung bình mỗi năm xuất hiện từ 1 đến 3 đợt ngập sâu kéo dài.

Sự phát triển nhanh chóng của các đô thị và khu công nghiệp đã thu hẹp các vùng trũng trữ lũ tự nhiên, đẩy hệ số tiêu thoát nước thiết kế từ mức 5,32 l/s/ha lên 6,48 l/s/ha, tạo áp lực khổng lồ lên hệ thống thủy lợi hiện hữu. Nghiên cứu này hướng tới mục tiêu đánh giá toàn diện khả năng tiêu thoát nước hiện tại của mạng lưới sông dài 86 km và 230 công trình thủy lợi trên địa bàn; đồng thời thiết lập mô hình toán thủy lực để mô phỏng chính xác mức độ úng ngập ứng với các kịch bản mưa lũ có chu kỳ lặp lại khác nhau. Phạm vi không gian nghiên cứu bao trùm 7 đơn vị hành chính gồm thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và các huyện Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc. Kết quả tính toán mang ý nghĩa thực tiễn then chốt trong việc bảo vệ hơn 6.000 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp và hạ tầng đô thị, giảm thiểu thiệt hại kinh tế hàng trăm tỷ đồng mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết dòng chảy không ổn định một chiều trong mạng lưới sông hở dựa trên hệ phương trình vi phân Saint-Venant (bao gồm phương trình liên tục và phương trình động lượng). Bên cạnh đó, lý thuyết hình thành dòng chảy từ mưa rào (mô hình mưa - dòng chảy thủy văn) được áp dụng để xác định đường quá trình lũ từ các sườn dốc vùng núi Tam Đảo đổ về hạ du.

Hệ thống tính toán vận hành dựa trên 4 khái niệm cốt lõi: hệ số tiêu nước mặt ruộng và đô thị, chu kỳ lặp lại của các trận mưa lũ thiết kế (tần suất P%), đường quá trình lưu lượng - mực nước (Q-H), và nguyên lý phân vùng tiêu kết hợp giữa tiêu tự chảy với tiêu động lực cưỡng bức. Mô hình toán thủy lực một chiều MIKE 11 tích hợp các mô-đun NAM và HD được lựa chọn làm công cụ tính toán chính, cho phép mô phỏng mạng lưới thủy lực phức tạp với các đập dâng, cống điều tiết và trạm bơm tiêu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào bao gồm chuỗi số liệu khí tượng thủy văn thực đo 25 năm (1990–2014) tại 2 trạm đại diện là Tam Đảo (vùng núi) và Vĩnh Yên (vùng đồng bằng); số liệu hình học trắc dọc, trắc ngang của 86 km lòng dẫn sông chính và các nhánh phụ lưu; cùng hồ sơ kỹ thuật của 230 công trình kiểm soát dòng chảy và 11 trạm bơm tiêu (tổng cộng 66 tổ máy).

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 105 ô tiêu tính toán chi tiết, đại diện cho toàn bộ 71.001 ha diện tích lưu vực và 5 đợt mưa lũ lịch sử lớn (các năm 2006, 2008, 2010, 2012 và 2013). Phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp phân tầng theo địa hình cao trình (từ +5m đến +700m) và ranh giới hành chính - lưu vực được áp dụng nhằm đảm bảo tính bao quát thực tế. Lý do lựa chọn mô hình toán một chiều là tính phù hợp tuyệt đối với mạng lưới sông có hệ số quanh co cao (K = 1,8), lòng dẫn hẹp từ 7m đến 100m và chịu sự chi phối mạnh mẽ của các công trình điều tiết nhân tạo. Quá trình hiệu chỉnh mô hình được thực hiện qua trận lũ tháng 8/2013 và kiểm định lại qua trận lũ cực đoan tháng 11/2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện sự chênh lệch địa hình cực lớn theo hướng Tây Bắc - Đông Nam (vùng núi Tam Đảo cao từ +300m đến +700m, vùng đồng bằng phía Nam chỉ từ +5m đến +10m) khiến nước lũ tập trung về hạ lưu rất nhanh. Trong 25 năm quan trắc, có tới 15 năm mực nước ngoài sông Phan tại Sáu Vó cao hơn mực nước nội đồng từ 0,18m đến 2,00m (điển hình ngày 27/7/1997 chênh lệch 2,00m; ngày 01/11/2008 chênh lệch 1,90m), làm triệt tiêu hoàn toàn khả năng tiêu tự chảy trong thời gian 10 đến 20 ngày.

Thứ hai, hạ tầng tiêu thoát nước hiện hữu bị suy giảm nghiêm trọng. Trong 86 km chiều dài sông Phan – Cà Lồ, toàn vùng mới chỉ có 29 km đê bao (23 km đê sông Cà Lồ và 6 km đê Sáu Vó), khiến nước lũ dâng cao tự do lan tỏa vào các vùng trũng. Toàn bộ 11 trạm bơm tiêu hiện chỉ đạt tổng công suất khoảng 36 m³/s, nhiều trạm hư hỏng nặng như trạm bơm Đầm Láng chỉ có 4/16 tổ máy hoạt động (đạt 25% công suất thiết kế), trạm bơm Sáu Vó hỏng hoàn toàn.

Thứ ba, mô phỏng thủy lực theo kịch bản lũ chu kỳ 10 năm (lượng mưa 5 ngày tại Vĩnh Yên là 522,6 mm và Tam Đảo là 475,9 mm) chỉ ra diện tích ngập úng vượt trên 6.005 ha. Trong đó, huyện Yên Lạc ngập lớn nhất với 6.043 ha (năm 2008) và huyện Bình Xuyên ngập tới 2.593 ha, độ sâu ngập phổ biến dao động từ 1,8m đến 2,5m tại các khu vực ven sông.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến ngập lụt nghiêm trọng là sự mất cân đối sâu sắc giữa nhu cầu tiêu thoát nước gia tăng và năng lực chuyển tải thực tế của hệ thống sông. Đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng đã biến 2.365 ha đất nông nghiệp thành bê tông, làm giảm dung tích trữ nước của hơn 5.000 ha ao đầm (như Đầm Sổ 80 ha, Đầm Vạc 180 ha bị chia cắt thành các ao nuôi thủy sản có bờ bao khép kín). Khi so sánh với các công trình nghiên cứu hệ thống sông Nhuệ và sông Hoàng Long, kết quả khẳng định hệ thống thủy lợi vùng sông Phan – Cà Lồ chỉ đáp ứng được khoảng 45% đến 50% nhu cầu tiêu úng thực tế trong điều kiện mưa lũ lớn.

Dữ liệu mô phỏng được thể hiện chi tiết qua các biểu đồ đường quá trình mực nước - lưu lượng (Q-H) tại các nút Nghĩa Lập, Vũ Di, Cầu Bòn, Lạc Ý và bản đồ ngập lụt không gian GIS cho thấy rõ các điểm nghẽn dòng chảy cục bộ xuất hiện dày đặc tại các đoạn sông bị lấn chiếm như thượng lưu Cầu Hương và Cầu Vũ Di.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống trạm bơm tiêu: Khẩn trương tiến hành sửa chữa, cải tạo 11 trạm bơm tiêu hiện có, đặc biệt khôi phục hoàn toàn 16 tổ máy của trạm bơm Đầm Láng và phục hồi trạm bơm Sáu Vó. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng các trạm bơm tiêu đầu mối mới để bơm cưỡng bức ra sông Hồng và sông Phó Đáy, nâng tổng công suất tiêu động lực toàn vùng từ 36 m³/s lên 85 m³/s trước năm 2026. Nhiệm vụ này do Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.

  2. Nạo vét khơi thông lòng dẫn và kiên cố hóa đê bao: Tổ chức giải tỏa dứt điểm các điểm lấn chiếm lòng sông tại khu vực Cầu Hương (Thổ Tang) và đoạn sông từ Vĩnh Sơn đến Cầu Vũ Di; nạo vét mở rộng mặt cắt thoát lũ trên toàn tuyến 86 km sông Phan - Cà Lồ. Triển khai xây dựng khép kín thêm 57 km đê bao vùng hạ lưu trong giai đoạn 2024–2028 nhằm ngăn lũ tràn ngược từ sông vào nội đồng, do Chi cục Thủy lợi tỉnh Vĩnh Phúc phụ trách thực hiện.

  3. Bảo tồn và phát huy dung tích trữ nước tự nhiên: Ban hành cơ chế quản lý nghiêm ngặt nhằm giữ nguyên hiện trạng hơn 5.000 ha ao hồ, đầm tự nhiên (Đầm Vạc, Đầm Sổ, Đầm Rưng); phá bỏ các bờ bao nuôi thủy sản tự phát gây cản trở thoát lũ; cải tạo các cống điều tiết đầu mối để chủ động hạ thấp mực nước đón lũ trước các trận mưa lớn, hoàn thành trong năm 2025 dưới sự điều phối của Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trên địa bàn.

  4. Thiết lập hệ thống quan trắc và điều hành tiêu úng tự động: Lắp đặt mạng lưới 25 trạm đo mưa và mực nước tự động truyền dữ liệu thời gian thực trên toàn lưu vực, tích hợp mô hình số trị dự báo ngập lụt để cảnh báo sớm trước 12–24 giờ cho 7 đơn vị hành chính, triển khai thực hiện từ năm 2024 đến 2026 bởi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và quy hoạch đô thị: Giúp các nhà hoạch định chính sách tại Vĩnh Phúc định hình cốt nền xây dựng cho 2.365 ha khu công nghiệp và phát triển đô thị an toàn, tránh các vùng trũng có nguy cơ ngập sâu từ 1,8m đến 2,5m.
  • Kỹ sư thiết kế và tư vấn thủy lợi: Cung cấp bộ thông số thủy lực tin cậy tại 102 mặt cắt ngang dọc 86 km sông chính phục vụ tính toán khẩu độ công trình cầu máng, cống điều tiết và công suất trạm bơm tiêu.
  • Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn: Cung cấp kịch bản chi tiết về phạm vi và thời gian ngập lụt theo chu kỳ 10 năm để xây dựng phương án ứng phó, di dời bảo vệ an toàn cho 823.529 người dân.
  • Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Thủy văn và Kỹ thuật Tài nguyên nước: Là tài liệu tham khảo thực tiễn giá trị về phương pháp ứng dụng mô hình toán thủy lực một chiều kết hợp hệ thống thông tin địa lý GIS trong bài toán tiêu úng lưu vực sông phức hợp.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính gây nên tình trạng ngập úng kéo dài trên lưu vực sông Phan – Cà Lồ là gì?
Nguyên nhân xuất phát từ địa hình chênh lệch lớn khiến lũ thượng nguồn dồn nhanh xuống đồng bằng, kết hợp với việc mực nước ngoài sông cao hơn nội đồng từ 0,18m đến 2,00m tại Sáu Vó trong 15/25 năm, triệt tiêu khả năng tiêu tự chảy trong khi năng lực tiêu động lực chỉ đạt 36 m³/s.

Mô hình toán thủy lực một chiều có đảm bảo độ chính xác cho vùng nghiên cứu không?
Mô hình một chiều hoàn toàn đảm bảo độ tin cậy cao vì hình học sông dài 86 km, quanh co và có tới 230 công trình kiểm soát. Quá trình hiệu chỉnh theo trận lũ tháng 8/2013 và kiểm định qua trận lũ tháng 11/2008 cho kết quả mực nước mô phỏng rất sát với thực đo.

Tác động của quá trình đô thị hóa đến khả năng tiêu úng của Vĩnh Phúc ra sao?
Quá trình đô thị hóa và mở rộng 2.365 ha đất công nghiệp làm giảm khả năng thấm tự nhiên và chia cắt hơn 5.000 ha ao đầm trữ lũ, làm tăng hệ số tiêu nước từ 5,32 l/s/ha lên 6,48 l/s/ha, gây ngập úng nặng cho các khu dân cư.

Lưu vực sông Phan – Cà Lồ được phân chia thành bao nhiêu vùng tiêu trong nghiên cứu?
Toàn bộ 71.001 ha lưu vực được phân chia khoa học thành 4 tiểu lưu vực chính gồm B1 (16.000 ha), B2 (23.813 ha), B3 (19.000 ha) và C (18.392 ha) cùng hệ thống 105 ô tiêu chi tiết nhằm tính toán thủy lực chính xác cho từng khu vực.

Giải pháp công trình nào cần được ưu tiên triển khai ngay để giảm ngập úng?
Ưu tiên hàng đầu là cải tạo nâng cấp trạm bơm tiêu Đầm Láng lên đủ 16 máy, phục hồi trạm bơm Sáu Vó và xây dựng bổ sung hệ thống đê bao khép kín dọc 86 km sông nhằm chủ động tiêu nước cưỡng bức khi mực nước ngoài sông dâng cao.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và xác định 4 nguyên nhân cốt lõi gây ngập úng trên diện tích 71.001 ha lưu vực sông Phan – Cà Lồ.
  • Phân chia thành công lưu vực nghiên cứu thành 4 tiểu vùng B1, B2, B3, C với 105 ô tiêu chi tiết, làm cơ sở khoa học cho công tác tính toán thủy văn - thủy lực.
  • Ứng dụng hiệu quả mô hình toán thủy lực một chiều để mô phỏng chính xác diễn biến mực nước, lưu lượng lũ trên 86 km sông chính và 230 công trình kiểm soát.
  • Định lượng cụ thể mức độ ngập lụt diện rộng vượt trên 6.005 ha ứng với kịch bản mưa lũ chu kỳ lặp lại 10 năm, làm cơ sở cảnh báo thiên tai.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình với mục tiêu nâng công suất tiêu lên 85 m³/s và khép kín 86 km đê bao.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp bức tranh định lượng rõ ràng về chế độ thủy lực tiêu úng, tạo cơ sở khoa học vững chắc phục vụ quy hoạch phát triển bền vững cho tỉnh Vĩnh Phúc. Các cơ quan quản lý và địa phương cần khẩn trương đưa các đề xuất công trình vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2024–2028. Hãy chủ động liên hệ các chuyên gia thủy lợi để tiếp nhận chuyển giao mô hình số trị, góp phần nâng cao năng lực phòng chống ngập úng và bảo vệ đời sống dân sinh.