Chương 1. Tổng quan về mô hình tích hợp CSTTKN trình bày một cách khái quát và chung nhất về tri thức, biểu diễn tri thức và CSTT; giới thiệu logic khả năng chuẩn (LKN) ở đó định giá (hay trọng số) của các mệnh đề nhận giá trị là số. Chương này cũng trình bày tính không nhất quán và việc đo lường tính không nhất quán của các CSTTKN; khảo cứu các phương pháp tích hợp CSTTKN theo quan điểm định đề và bằng cách sử dụng nhiều toán tử tích hợp. Khảo cứu kỹ thuật xây dựng giải pháp xxii đàm phán, trong đó nhất là giải pháp đàm phán nhượng bộ đồng thời trong các trò chơi đàm phán và kỹ thuật tranh luận trong xử lý tri thức mâu thuẫn trong lý thuyết lựa chọn xã hội để xác định khoảng trống nghiên cứu cũng như khả năng có thể đưa kỹ thuật đàm phán hoặc kỹ thuật tranh luận vào trong quá trình tich hợp các CSTT ưu tiên nói chung, CSTTKN nói riêng.
Tích hợp CSTTKN dựa trên kỹ thuật đàm phán đề xuất các tính chất logic mà quá trình tích hợp các CSTT ưu tiên dựa trên kỹ thuật đàm phán cần thỏa mãn. Các tính chất logic này được phát triển dựa trên các tiên đề cho giải pháp trong các trò chơi đàm phán. Tập các tính chất logic đó được gọi là mô hình tiên đề. Chương này cũng đề xuất quy trình tích hợp các CSTT ưu tiên có thể không nhất quán với tập ràng buộc dựa trên ý tưởng của kỹ thuật đàm phán nhượng bộ đồng thời, ở đây tập ràng buộc đóng vai trò như là trọng tài của quá trình đàm phán.
Quy trình này được gọi là Quy trình tích hợp - đàm phán và được xem như là mô hình xây dựng CSTT tích hợp dựa trên kỹ thuật đàm phán. Chương 2 đề xuất thuật toán mô tả chinh xác quy trình tích hợp - đàm phán và chỉ ra mối quan hệ khá chặt chẽ giữa mô hình tiên đề và mô hình xây dựng của quá trình tích hợp CSTT ưu tiên với tập ràng buộc trọng tài. Chương này cũng trình bày việc ước lượng độ phức tạp thuật toán được đề xuất và độ phức tạp tính toán của thuật toán này sẽ được chi tiết, cụ thể hơn khi các CSTT ưu tiên là các CSTTKN, ở đó quan hệ thứ tự trên mỗi CSTTKN là được cảm sinh tự nhiên từ các tri thức khả năng trong các CSTT này. Tích hợp CSTTKN dựa trên kỹ thuật tranh luận và kết hợp toán tử trình bày Khung làm việc của quá trình tích hợp các CSTT ưu tiên có thể không nhất quán dựa trên ý tưởng của kỹ thuật tranh luận để xử lý tri thức mâu thuẫn trong lý thuyết lựa chọn xã hội.
Trong Khung làm việc này, quy trình tích hợp các CSTTKN dựa trên kỹ thuật tranh luận được gọi là quy trình tích hợp - tranh luận và được xem như là mô hình xây dựng của quá trình tích hợp. Mô hình tiên đề của quá trình này được phát triển từ các định đề của quá trình tích hợp các CSTTKN đã được cộng đồng nghiên cứu, ứng dụng thừa nhận rộng rãi. Chương này cũng giới thiệu thuật toán mô tả chính xác quy trình tích hợp - tranh luận, độ phức tạp tính toán của thuật toán này xxiii và mối quan hệ giữa mô hình xây dựng và mô hình tiên đề cũng được chỉ ra. Thuật toán được đề xuất và độ phức tạp tính toán của nó cũng được chi tiết và tường minh hơn cho quá trình tích hợp các CSTTKN dựa trên kỹ thuật tranh luận.
Chương 3 còn giới thiệu phương pháp mở rộng mô hình tích hợp hai CSTTKN sử dụng hai họ toán tử thành mô hình tích hợp nhiều CSTTKN sử dụng hai họ toán tử đó. Phương pháp này được gọi là phương pháp tích hợp kết hợp sử dụng 2 toán tử. Điều kiện cần và đủ để phương pháp tích hợp kết hợp các CSTTKN sử dụng hai họ toán tử có thể thực hiện được cũng như thuật toán cho phương pháp tích hợp CSTTKN như vậy được giới thiệu ở phần cuối của chương này. Tích hợp CSTT khả năng biểu trưng sẽ trình bày việc tích hợp các CSTTKNBT theo quan điểm định đề.
Các thuộc tính logic của các toán tử tích hợp theo quan điểm định đề và tích hợp phân cấp các CSTTKNBT cũng được trình bày trong Chương này. Cuối cùng, Phần Kết luận và hướng phát triển sẽ tổng hợp các kết qủa nghiên cứu chính của luận án, trình bày các hạn chế còn tồn tại của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án này. xxiv Chương 1. TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH TÍCH HỢP CSTT KHẢ NĂNG Trong chương này, luận án sẽ trình bày khái niệm CSTT không nhất quán và một số loại logic như logic mệnh đề, logic khả năng và logic khả năng biểu trưng.
Trình bày tổng quan về phương pháp tích hợp các CSTT mệnh đề và các CSTTKN theo quan điểm định đề; Mô hình tích hợp hai CSTTKN sử dụng hai họ toán tử; Khung tranh luận, tích hợp các khung tranh luận và khung tranh luận cho tích hợp các CSTTKN mâu thuẫn; Mô hình đàm phán và hệ tiên đề của giải pháp đàm phán của trò chơi đàm phán, và một số cách tiếp cận điển hình về tích hợp các CSTT dựa trên kỹ thuật đàm phán. Thông qua trình bày tổng quan, chương này một mặt xác định những khoảng trống nghiên cứu sẽ được nghiên cứu giải quyết trong luận án này và mặt khác cung cấp những khái niệm cơ bản và những tri thức cần thiết khác cho việc triển khai thực hiện giải đáp các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra ở các chương sau. Tri thức, biểu diễn tri thức và CSTT 1. Tri thức Theo Zins tri thức là thông tin đã được người dùng lĩnh hội, khi thông tin được đồng hóa đầy đủ thì tạo ra tri thức [2].
Do đó, với tư cách là tác nhân trung gian trong việc tạo ra tri thức, thông tin tự nó về hình thức và bản chất được coi là cấu trúc quan trọng có thể tạo ra tri thức. Tri thức liên quan đến cả dữ liệu và các mối quan hệ giữa các phần tử dữ liệu hoặc tập hợp của chúng. Việc tổ chức dữ liệu dựa trên các mối quan hệ này cho phép rút ra những khái quát từ dữ liệu được sắp xếp sao cho có tổ chức và hình thành các câu hỏi về việc thu thập dữ liệu. Nghĩa là, tri thức đặt ra nhiệm vụ tìm kiếm tri thức và nó nảy sinh từ những ý tưởng đã được xác minh hoặc xác thực Tri thức mệnh đề suy diễn.
Trong nhận thức luận truyền thống, có ba loại tri thức chính: tri thức thực tế, tri thức do quen biết, và tri thức mệnh đề. Tri thức thực tế đề cập đến các kỹ năng (tức là khả năng chức năng, chẳng hạn như lái xe ô tô). Tri thức do quen biết là sự nhận biết trực tiếp không qua trung gian các vật thể và sinh 1 vật bên ngoài (ví dụ: “đây là Minh”), hoặc sự nhận biết trực tiếp các hiện tượng bên trong (ví dụ: đau, đói). Tri thức mệnh đề thường ở dạng “biết rằng”, “P là mệnh đề”.
Nó là sự phản ánh nội dung được thể hiện của những gì một người nghĩ rằng họ biết. Trong lĩnh vực khoa học thông tin, cũng như bất kỳ lĩnh vực học thuật nào, đều có tri thức mệnh đề. Trong luận án này tập trung vào tri thức biểu diễn dưới dạng các mệnh đề được chuyển sang dạng logic. Biểu diễn tri thức Có bốn phương pháp biểu diễn tri thức chính: Biểu diễn bằng đồ thị (Network Representation), biểu diễn bằng khung tri thức (Frame Representation), biểu diễn bằng các luật sản xuất (Production Rules) và biểu diễn dưới dạng logic (Logical Representation).
Biểu diễn tri thức dưới dạng logic là cách biểu diễn bằng sử dụng một ngôn ngữ logic với một số luật cụ thể liên quan đến các mệnh đề. Biểu diễn dạng logic đặt ra một số quy tắc giao tiếp quan trọng, bao gồm cú pháp và ngữ nghĩa. Cú pháp là tập các luật quyết định cách có thể xây dựng các câu hợp lý trong logic. Ngữ nghĩa là cách xác định ý nghĩa của các câu.
Biểu diễn tri thức dưới dạng logic có thể dùng nhiều ngôn ngữ logic khác nhau từ logic mệnh đề, logic vị từ [5] và dạng câu Horn [6] đến các logic khác như: logic mờ [7], logic mô tả [8], logic khả năng, logic khả năng biểu trưng [9] và logic xác suất [10]. Luận án này, sử dụng cách biểu diễn tri thức dựa trên các ngôn ngữ logic như logic mệnh đề, logic khả năng (LKN) và logic khả năng biểu trưng (LKNBT). Giả sử ta có tri thức như sau: “Nếu sáng mai trời nắng đẹp cả lớp sẽ đi dã ngoại nếu không ở nhà ôn bài, khả năng/xác suất xảy ra điều này là 60%”. Ký hiệu 𝛼 =”sáng mai trời nắng đẹp”, 𝛽 =”đi dã ngoại”, 𝜆 =”ở nhà ôn bài”, trong ngôn ngữ LKN, tri thức trên có thể được biểu diễn dưới dạng: ((𝛼 → 𝛽) ∨ 𝜆, 0.6), ở đây (𝛼 → 𝛽) ∨ 𝜆 biểu diễn mệnh đề được phát biểu ở trên; 0.6 được gọi là 2 trọng số (hay định giá) thể hiện tình trạng chân lý của mệnh đề đã cho.6 được đo bằng độ đo cần thiết của mệnh đề đã cho, và biểu diễn tri thức nêu trên có thể diễn giải một cách đơn giản là mức độ chắc chắn để mệnh đề đã cho xảy ra ít nhất 0.
Cơ sở tri thức Logic còn được sử dụng phổ biến trong lý thuyết lập luận. Mục đích của logic trong trí tuệ nhân tạo là phát triển các ngôn ngữ để thể hiện tri thức một cách hình thức trong một miền và làm cho chúng có thể suy diễn. Một ngôn ngữ hình thức được trang bị một cú pháp, cho phép biểu diễn các công thức logic, đồng thời nó được gắn với một ngữ nghĩa hình thức cho biết ý nghĩa đúng của các công thức này. Nói chung, ngữ nghĩa của một ngôn ngữ logic cụ thể là làm cách nào người ta có thể lập luận về tri thức được mã hóa theo cú pháp thông qua các công thức.
Các logic được tạo ra là để biểu diễn và xử lý tri thức. Vì vậy, mỗi nguồn tri thức thường được coi như một CSTT và được biểu diễn là một tập hợp của các công thức logic. Một trong những vấn đề quan trọng của tích hợp nhiều CSTT là xử lý vấn đề không nhất quán. Mặc dù mỗi CSTT riêng lẻ có thể nhất quán, tuy nhiên khi ta gộp chúng với nhau thì có thể làm phát sinh mâu thuẫn.
Điều này, dẫn đến việc đòi hỏi phải có quá trình tích hợp các CSTT này.