CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu về khu vực nghiên cứu 1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, địa mạo của khu vực nghiên cứu 1.1 Vị trí địa lý Phú Yên là một trong 8 tỉnh thành của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ 12o39’1’’ đến 13o45’20’’ vĩ độ Bắc và 108o39’45’’ đến 109o29’20’’ kinh độ Đông. Phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định. Trung tâm Phú Yên nằm cách Hà Nội 1.160 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 561 km về phía Nam theo tuyến Quốc lộ 1A.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu 4 Tuy An là một huyện đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, nằm về phía Bắc tỉnh Phú Yên, với bờ biển có chiều dài 45 km, cách thành phố Tuy Hòa 30 km, với tổng diện tích tự nhiên: gần 415 km2; huyện có 14 xã là An Chấn, An Mỹ, An Hòa Hải, An Hiệp, An Cư, An Dân, An Thạch, An Ninh Tây, An Ninh Đông, An Định, An Nghiệp, An Lĩnh, An Xuân, An Thọ và Thị trấn Chí Thạnh. Trong đó có 05 xã bãi ngang và 03 xã miền núi; có 85 thôn và 5 khu phố.
Ranh giới hành chính huyện Tuy An cụ thể như sau: Phía Tây : giáp huyện Sơn Hòa. Phía Nam : giáp thành phố Tuy Hòa. Phía Bắc : giáp Thị xã Sông Cầu. Phía Tây Bắc : giáp huyện Đồng Xuân.
Phía Đông : giáp Biển Đông. Huyện Tuy An nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn. Dịch về phía Bắc là cửa Tiên Châu chảy ra vịnh Xuân Đài. Về phía Tây là 03 xã núi non hiểm trở, có độ cao trung bình từ 250 – 500 m so với mặt nước biển, với khí hậu mát mẻ ôn hòa.
Lưu vực sông Kỳ Lộ [1] Sông Kỳ Lộ bắt nguồn từ To Net (1030 m) ở xã Dăk Song huyện Krong Chro tỉnh Gia Lai với phần thượng lưu gọi là sông La Hiêng. Đây là con sông lớn thứ 2 ở tỉnh Phú Yên. Diện tích lưu vực sông Kỳ Lộ rộng khoảng 1950 km2. Sông có hướng chảy theo hướng Bắc Tây Bắc vào địa phận tỉnh Phú Yên ở xã Phú Mỡ huyện Đồng Xuân rồi chuyển hướng Tây Bắc - Đông Nam qua thôn Phú Mỹ, xã An Dân chia làm hai nhánh sông Cái và sông Nhân Mỹ.
Nhánh sông Cái sau khi chảy qua quốc lộ 1A tiếp tục chia làm hai nhánh sông Cái và sông Hà Yến. Sông Cái và sông Nhân Mỹ đổ ra cửa Bình Bá, còn sông Hà yến đổ ra đầm Ô Loan.2 Lưu vực sông Kỳ Lộ Có 11 nhánh sông cấp I thuộc lưu vực sông Kỳ Lộ chảy trực tiếp vào dòng chính như các sông: Tiouan, Khe Cách, Gâm, Cà Tơn, suối Đập, Trà Bương, Cổ, Cạy, Tà Hồ… Bảng 1.1 Đặc trưng hình thái sông Kỳ Lộ Chiều Diện Tên sông Đổ ra dài tích Ghi chú (km) (km2) Sông Kỳ Lộ Biển Sông Cà Tôn Sông Kỳ Lộ 14 89 Suối Ea Kan Sông Cà Tôn 10 34 Suối Cối Sông Kỳ Lộ 10 37 Sông Trà Bương Sông Kỳ Lộ 37 274 Suối Trà My Sông Trà Bương 10 13 Tên khác: Suối Khế Suối La Can Sông Trà Bương 12 37 6 Chiều Diện Tên sông Đổ ra dài tích Ghi chú (km) (km2) Suối Tía Sông Trà Bương 14 78 Suối Tre Sông Kỳ Lộ 11 25 Tên khác: Suối Đập Sông Cô Sông Kỳ Lộ Suối Hà Roi Sông Cô 12 82 Suối Ca Te Suối Hà Roi 13 29 Tên khác: Suối Hồ Suối Hải Tựa Sông Kỳ Lộ 15 38 Chình, Suối,Mà Dom Suối Cái Sông Kỳ Lộ 24 158 Sông Đồng Sa Suối Cái 11 42 Tên khác: Suối Tá Hô Sông Hà Yên Biển 6 Cửa Tiên Châu Cửa Tiên Châu nằm ở hạ lưu sông Kỳ Lộ thuộc xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Phía Bắc cửa tiếp giáp vịnh Xuân Đài, phía Nam cửa tiếp giáp cảng Tiên Châu, phía Tây cửa tiếp giáp Thị xã Sông Cầu, phía Đông cửa tiếp giáp với núi Ông Ngõn. Cửa Tiên Châu là cửa sông lưỡi cát càng cua được chắn bởi doi cát Tiên Châu là nơi sông Kỳ Lộ đổ vào vịnh Xuân Đài và biển Đông.
Đây là khu vực có mật độ tàu thuyền qua lại cao. Hàng ngày, có hơn 2000 tàu thuyền với công suất lên đến 800 mã lực qua lại khu vực cửa biển này. Hơn thế nữa, khu vực cửa Tiên Châu, vịnh Xuân Đài cũng mang lại nguồn lợi lớn cho tỉnh Phú Yên nhờ các hoạt động nuôi trồng thủy hải sản và du lịch.3 Vị trí khu vực cửa Tiên Châu 1.2 Địa hình Phía Bắc tỉnh Phú Yên là dãy Cù Mông, phía Nam là dãy núi Đèo Cả, phía Tây là rìa phía Đông của dãy Trường Sơn, phía Đông là Biển Đông; địa hình có núi đồi và đồng bằng xen kẽ; ngoại trừ một vài đỉnh núi cao vượt quá 1000 m nằm ở phía Tây huyện Đồng Xuân, phía Tây Nam huyện Tây Hòa và phía Nam huyện Sông Hinh. Tổng thể núi Phú Yên nhìn chung không cao, có dao động ở mức 300 m đến 600 m và được phân bố đều trong khắp tỉnh.
Huyện Tuy An có địa hình đa dạng gồm: Đồi núi, đồng bằng và biển. Huyện Tuy An nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn và là nơi các nhánh của dãy Trường Sơn đâm ra biển. Địa hình Tuy An thấp dần từ Tây sang Đông. Điểm cao nhất là núi Hòn Chuông, cao 500 m.
Các xã có núi non hiểm trở, đường giao thông đi lại khó khăn như xã An Lĩnh và An Thọ.3 Tài nguyên thiên nhiên a) Tài nguyên rừng Trên địa bàn huyện tổng diện tích quy hoạch lâm nghiệp đến năm 2025 là 14821,22 ha và không có rừng đặc dụng. Trong đó có 467,32 ha rừng phòng hộ và 14353,90 ha 8 rừng sản xuất (Theo Nghị quyết số: 100/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Phú Yên ngày 08/12/2017 về việc thông qua kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Phú Yên) b) Khoáng sản Nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện khá phong phú điển hình như quặng diatomite xã An Xuân, với trữ lượng trên 61 triệu m3, chiếm 88% trữ lượng toàn tỉnh, với diện tích 66 ha. Diatomite là khoáng sản có giá trị cao, có thể sử dụng trong 300 lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Ngoài ra còn có sắt, đá xay công nghiệp, cát xây dựng, bô xít và các loại khoáng sản khác.
c) Tài nguyên du lịch Tuy An sở hữu nhiều bãi biển rộng, nước trong xanh, bờ cát mịn trải dài gắn với cảnh quan thiên nhiên đẹp, do thiên nhiên kiến tạo nổi bật như Gành Đá Đĩa, Hòn Yến…và các di tích lịch sử khác, đặc biệt là di sản văn hóa Đá tiêu biểu là bộ Đàn đá và Kèn đá có niên đại cách ngày nay khoảng trên 2500 năm. Nhiều lễ hội truyền thống, các làn điệu dân ca, các điệu dân vũ đặc sắc; những làng nghề truyền thống và nhiều đặc sản nổi tiếng sẵn sàng phục vụ nhu cầu ẩm thực của du khách, tạo cơ hội cho du khách được trải nghiệm những khía cạnh văn hóa truyền thống. Những tài nguyên du lịch trên, đặc biệt là sự đa dạng, phong phú của di sản văn hóa là cơ sở để kêu gọi đầu tư hình thành các sản phẩm du lịch – dịch vụ, thu hút khách du lịch đến Tuy An.2 Đặc điểm khí tượng, khí hậu [2] 1.1 Gió Phú Yên có chế độ gió liên quan mật thiết với điều kiện hoàn lưu khí quyển vùng nhiệt đới chịu tác động thường xuyên của áp cao cận nhiệt đới Thái Bình Dương. Ở tầng thấp, luồng không khí có hướng chủ yếu Đông Bắc và di chuyển khá ổn định, tầng cao không khí di chuyển chủ yếu theo hướng Tây Nam.
Sự hoạt động này mạnh yếu tùy theo mùa và mức độ phát triển của những khối không khí. Chế độ gió ở Phú Yên có hai mùa trong năm và ảnh hưởng nhiều đến địa hình của các dãy núi nên chế độ gió trong cùng một mùa hoặc từng thời đoạn ở các vùng có thể 9 khác nhau. Trong mùa đông, khu vực Phú Yên thịnh hành một trong ba hướng gió chính là: Bắc, Đông Bắc và Đông. Thời kỳ thịnh hành một trong hai hướng gió chính Tây và Tây Nam là vào mùa hạ.
Tốc độ gió từ 6 ÷ 10 m/s chỉ chiếm khoảng từ 2 ÷ 18%. Trong những tháng từ tháng 5 tới tháng 8 là thời điểm cuối mùa hạ đạt tần suất 5 ÷ 15%. Vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc, tốc độ gió từ 6 ÷ 10 m/s chỉ đạt tần suất 2 ÷ 5% ở những nơi khuất gió, vùng ven biển có tần suất khoảng 6 ÷ 18%.2 Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 26 ÷ 27oC. Nhiệt độ trung bình tháng cao rất dao động từ 26,1 ÷ 29,4oC xuất hiện vào khoảng từ tháng 6 tới tháng 8.
Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất dao động từ 20,6 ÷ 23,9oC xuất hiện vào khoảng tháng 12 hoặc tháng 01.3 Độ ẩm Độ ẩm trung bình tương đối hàng năm từ 80 ÷ 82%. Độ ẩm cao nhất xuất hiện trong các tháng mùa mưa đạt khoảng 83 ÷ 89%. Các có độ ẩm thấp dao động khoảng 72 ÷ 78% rơi vào các tháng chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam.4 Chế độ mưa Tổng lượng mưa trung bình năm ở Phú Yên không đồng đều. Chênh lệch lượng mưa giữa nơi mưa nhiều nhất và mưa thấp nhất khoảng 487 mm.
Trong năm, mùa mưa từ tháng 9 tới tháng 12 với tổng lượng mưa từ 1152 ÷ 1738 mm chiếm 68÷84% tổng lượng mưa cả năm. Ngược lại trong mùa khô lượng mưa chiều từ 16 ÷ 32%.3 Đặc điểm thủy văn, hải văn, thủy động lực khu vực nghiên cứu [2] Commented [TTT1]: Tiêu đề ko phù hợp với nôi dung. Trong ND chỉ có chế độ triều và sóng, 1.1 Dòng chảy Dòng chảy tại khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của cả dòng chảy sông và dòng triều. Dòng chảy sông biến đổi theo không gian và thời gian theo quy luật chung.
Sự phân bố của dòng chảy tương tự như sự phân bố của mưa. Dòng chảy mùa lũ trong 4 tháng từ tháng 9 tới tháng 12 chiếm 75% tổng lưu lượng dòng chảy cả năm. Ngược lại, lưu lượng dòng chảy trong 8 tháng mùa khô từ tháng 1 tới tháng 8 chỉ chiếm khoảng 10 25% tổng lưu lượng dòng chả cả năm. Trong năm, lũ lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 10 và tháng 11 với tần suất trên 85%.2 Thủy triều Nằm trong vùng biển Nam Trung Bộ, thủy triều tại khu vực nghiên cứu mang những đặc trưng của vùng này.
Chế độ thủy triều chủ yếu là nhật triều không đều, số ngày nhật triều chiếm khoảng 17 ÷ 23 ngày trong tháng. Những ngày còn lại ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật triều không đều.