đặt vấn đề nghiên cứu chuyên sâu về hệ thuật ngữ của một ngành tương đối hoàn chỉnh, đó là: Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt. Gần đây, một số công trình có giá trị về mặt lí luận và thực tiễn trong lĩnh vực thuật ngữ như Lê Quang Thiêm với “Sự phát triển thuật ngữ tiếng Việt theo định hướng văn hóa (từ 1907 – 2005)”, Nguyễn Đức Tồn (2012) với “Nghiên cứu khảo sát thuật ngữ tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam”. Tháng 11 năm 2008, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam đã tổ chức hội thảo “Thuật ngữ tiếng Việt trong đổi mới và hội nhập”. Đã có 10 báo cáo khoa học, tham luận được trình bày trong hội thảo.
Năm 2009 – 2010, chương trình khoa học cấp Bộ của Viện Khoa học xã hội Việt Nam do PGS. TS Phạm Hùng Việt làm chủ nhiệm “Một số vấn đề cơ bản về cơ sở lí luận và phương pháp biện soạn các loại từ điển và bách khoa thư Việt Nam” được triển khai, trong đó có nội dung về biên soạn từ điển thuật ngữ và chuyên ngành. Ngoài ra, Hà Quang Năng (2012) đã cho ra mắt chuyên khảo Thuật ngữ học – Những vấn đề lí luận và thực tiễn. Đây là một tài liệu có nhiều đóng góp vào công việc nghiên cứu về lí luận thuật ngữ ở Việt Nam.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế hội nhập hiện nay, Nguyễn Văn Khang với một số bài báo mang tính thời sự: Nghiên cứu về vấn đề xử lý từ ngữ nước ngoài trong tiếng Việt hiện nay, nhằm chuẩn hóa thuật ngữ trong tiếng Việt [Nguyễn Văn Khang 2000-2005]. Bên cạnh các bài viết, công trình nghiên cứu, các hội thảo về thuật ngữ, trong thời gian gần đây còn có khá nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, lấy đề tài nghiên cứu về thuật ngữ làm đề tài cho luận văn, luận án của mình. Có thể dẫn ra một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt trong một số ngành khoa học như: Mai Thị Loan (2011), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt; Vũ Thị Thu Huyền (2013), Thuật ngữ khoa học kỹ thuật xây dựng trong tiếng Việt; Quách Thị Gấm (2014), Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt; Ngô Phi Hùng (2014), Nghiên cứu các phương thức 10 cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học - Vật lí), … Các luận án nghiên cứu về đối chiếu so sánh và đối dịch thuật ngữ tiếng nước ngoài với tiếng Việt, theo khảo sát của chúng tôi, có những luận án sau: Nguyễn Thị Bích Hà (2000), Thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại; Vương Thị thu Minh (2006), Khảo sát thuật ngữ y học trong tiếng Anh và cách dịch chuyển sang tiếng Việt; Lê Thanh Hà (2014), Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt – Anh. Về lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, theo hiểu biết của chúng tôi, mới chỉ có luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), Khảo sát hệ thuật ngữ tin học Viễn thông tiếng Việt.
Đây là công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ tin học – viễn thông trong tiếng Việt. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về thuật ngữ BCVT. Chính vì vậy, chúng tôi chọn thuật ngữ BCVT tiếng Anh làm đối tượng nghiên cứu cho luận án này, với mong muốn bước đầu đi sâu nghiên cứu thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh về đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh,và sau đó là cách chuyển dịch hệ thuật ngữ này sang tiếng Việt. Như vậy, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về lí thuyết thuật ngữ nói chung cũng như về hệ thuật ngữ cụ thể của một số chuyên ngành.
Điều này chứng tỏ đây là một lĩnh vực thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong thời gian qua. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, với sự phát triển của các ngành khoa học, kĩ thuật, văn hóa, nghệ thuật, Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu với các nước khác trên thế giới, cho nên việc tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu thuật ngữ là một nhu cầu tất yếu cần được đặt ra. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT trên thế giới và ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh Việc nghiên cứu thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh chủ yếu được tiến hành theo các hướng sau: - Tìm hiểu lịch sử thuật ngữ BCVT.
- Sử dụng các yếu tố gốc Latinh và gốc Ấn - Âu trong thuật ngữ BCVT. - Phân tích các thành tố cấu tạo thuật ngữ, hình vị kết hợp, phụ tố, cấu tạo từ, từ phái sinh bao gồm cả phân tích ngữ nghĩa các thuật ngữ BCVT. - Các phương pháp tạo ra thuật ngữ. 11 Kết quả nghiên cứu đã dẫn tới các cuốn từ điển, giáo trình, tài liệu về chuyên ngành BCVT, có thể kể ra một số công trình như: - Understanding Telecommunications, Anders O., Ericsson Telecom, Telia and Student literature, 1998.
- The Internet book, Doughlas E. - Communications Standard Dictionary, Martin H. International Thompson Publishing Inc, 1999. - Desktop Encyclopedia of Telecommunications, Nathan, J., McGraw- Hill Inc, 1998.
- The Focal Illustrated Dictionary of Telecommunications Xerxes M.,, Reed Education and Professional Publishing Limited, 1999. - Illustrated Telecom Dictionary, Jade C., second edition, McGraw- Hill Inc, 1998. - Vocabulaire, Universal Postal Union, Union postale universelle, Bern, 2003 - English for Telecommunication Industry, Jeremy Comfort, OUP, 1986.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT ở Việt Nam BCVT là một ngành khoa học công nghệ xuất hiện ở nước ta chưa lâu, nhưng lại đang có những bước phát triển vượt bậc, ngành BCVT đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu những yêu cầu cấp thiết, cần phải có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về khoa học BCVT nói chung cũng như về hệ thuật ngữ BCVT, về sách công cụ tra cứu cho ngành nói riêng. Nhu cầu thì cao, nhưng trên thực tế, trong phạm vi sách công cụ tra cứu và công trình nghiên cứu về thuật ngữ BCVT ở Việt Nam, chỉ có thể kể ra được một số công trình sau: - Năm 1997, Ban từ điển, Nxb Khoa học và kĩ thuật xuất bản cuốn “Từ điển Điện tử - Tin học – Truyền thông Anh – Việt”.
- Năm 2002, Nxb Khoa học và Kỹ thuật xuất bản cuốn “Từ điển Tin học Điện tử Viễn thông”. - Năm 2005, Nxb Bưu điện đã xuất bản cuốn “Từ điển thuật ngữ Viễn thông Anh – Việt”, do TS Phùng Văn Vận làm chủ biên. - Năm 2003, Nxb Bưu điện xuất bản cuốn “Từ điển giải nghĩa thuật ngữ viễn thông Anh – Việt”, do Lê Thanh Dũng làm chủ biên. - Năm 2003, Nxb Bưu điện đã xuất bản cuốn “Từ điển viết tắt Điện tử - Viễn thông - Tin học Anh – Việt”, do nhiều tác giả biên soạn.
12 - Năm 1998, Nxb Bưu điện đã xuất bản cuốn “Tiếng Anh dành cho giao dịch viên bưu điện”, do Nguyễn Thượng Thái làm chủ biên. Gần đây có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005) “Khảo sát hệ thuật ngữ tin học Viễn thông tiếng Việt”. Đây là một luận án có nhiều đóng góp, tuy nhiên đây là một nghiên cứu về thuật ngữ chuyên ngành Tin học - Viễn thông hơn nữa lại là thuật ngữ tiếng Việt, không đề cập đến thuật ngữ bưu chính, Như vậy, nhìn chung việc nghiên cứu thuật ngữ BCVT ở Việt Nam từ trước đến nay, xét về cả lí luận và thực tiễn còn chưa được quan tâm thích đáng mà mới chỉ là những khảo sát bước đầu có tính chất định hướng, chưa toàn diện và chuyên sâu. Một số vấn đề lí thuyết về thuật ngữ 2.
Vị trí thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ Thuật ngữ là những từ ngữ đặc biệt chủ yếu do con người tạo ra một cách có ý thức, là sản phẩm của lao động trí tuệ bởi vì thuật ngữ ra đời cùng với sự lao động sáng tạo của đội ngữ trí thức. “Thuật ngữ không chỉ hiểu đơn giản là từ và ngữ chuyên môn dùng trong khoa học kĩ thuật, công nghệ, dịch vụ mà đó là hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học, là tri thức khoa học công nghệ, là trí tuệ dân tộc và nhân loại được chung đúc qua hình thức ngôn ngữ” [97, tr. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và đội ngũ trí thức, thuật ngữ ngày càng được quan tâm và các nghiên cứu về thuật ngữ học ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Thuật ngữ hiện nay được nhìn nhận không phải chỉ là một lớp từ giống lớp từ địa phương, từ nghề nghiệp… như quan niệm trước kia, bởi vì so với các lớp từ này, thuật ngữ là bộ phận từ vựng rất lớn trong hệ thống ngôn ngữ.
Theo tổng kết của một số nhà nghiên cứu, hầu hết các từ ngữ mới xuất hiện trong từ điển đều là thuật ngữ. Chẳng hạn, theo thống kê của nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc Sokhora., có đến 90% từ mới thuộc hệ thống thuật ngữ khoa học và kĩ thuật. Tương tự như vậy, Budagov R. (1976) nhận định “Số lượng thuật ngữ trong mỗi ngành khoa học đang phát triển quả thật không phải từng ngày mà là từng giờ” [5, tr.
Chính vì sự phát triển mạnh mẽ đó mà thuật ngữ hiện nay rất được các nhà khoa học quan tâm và trở thành đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học, một ngành khoa học đã được công nhận ở trên thế giới. Mặc dù hiện nay còn có 13 những tranh luận cũng như chưa có được câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề thuật ngữ học nằm ở đâu trong ngôn ngữ học, nhưng nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài khẳng định “Thuật ngữ học là chuyên ngành độc lập, ra đời và phát triển từ ngôn ngữ học trong thế kỷ XX, gồm 2 lĩnh vực chính: thuật ngữ học lí thuyết và thuật ngữ học ứng dụng. Trong đó, đối tượng của thuật ngữ học là thuật ngữ với các lớp, loại khác nhau và hệ thống thuật ngữ hiểu theo nghĩa rộng” [68, tr. Theo Leichik (1986), trong thực tế thuật ngữ có thể được hình thành theo tự phát, tự nhiên hoặc được tạo ra một cách có ý thức.
Thuật ngữ được hình thành theo con đường tự phát thường phản ánh không hoàn toàn đầy đủ, chi tiết và hệ thống các khái niệm chuyên ngành. Quan niệm về thuật ngữ Cho đến nay hầu hết mỗi nhà nghiên cứu tiếp cận thuật ngữ từ nhiều góc nhìn khác nhau, vì vậy cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ. Chẳng hạn, trong bài báo năm 1970, Golovin B.