chương 1, đề tài cũng nêu thêm đặc điểm một số phương pháp thống kê vận dụng trong bài, bao gồm: phương pháp phân tổ; phương pháp phân tích dãy số thời gian và phương pháp chỉ số. iv Chương 2, đề tài đi sâu vào nghiên cứu thống kê lao động có việc làm tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2014 đồng thời đưa ra một số kiến nghị giải pháp đối với cả công tác sử dung lao động và công tác thống kê. Trước hết, chương này đề cập đến tổng quan đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh. Về đặc điểm tự nhiên, Bắc Ninh là một tỉnh mới tái lập năm 1997 từ tỉnh Hà Bắc cũ.
Nằm trong châu thổ sông Hồng, Bắc Ninh tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang ở phía Bắc, tỉnh Hải Dương ở phía Đông, thành phố Hà Nội ở phía Nam và Tây. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 803,87 km2 bằng 0,24% diện tích cả nước. Dân số tính đến năm 2014 theo số liệu Cục Thống kê Bắc Ninh là 1.Tổng sản phẩm trong tỉnh tạo ra hàng năm tăng liên tục, tốc độ gia tăng trung bình trên 10%. Cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp.
Về môi trường đầu tư, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2014 của Bắc Ninh là 60,92, đứng thứ 10 trong số 64 tỉnh thành trên toàn quốc.Nguồn số liệu trong luận văn được thu thập từ Cục Thống kê Bắc Ninh, Niên giám Thống kê Bắc Ninh thông qua Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, các cuộc điều tra lao động việc làm hàng năm của tỉnh và việc đăng ký dân số của người dân từ cấp xã, phường. Phân tích biến động quy mô lao động có việc làm cho thấy kinh tế tỉnh Bắc Ninh đang chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ. Do vậy, quy mô lao động có việc làm cũng biến động không nhỏ trong giai đoạn 10 năm từ 2005 đến 2014.Nhìn chung số lượng lao động có việc làm của Bắc Ninh tăng liên tục qua các năm với tốc độ khá nhanh, tốc độ tăng bình quân là 1,35%/năm, tốc độ phát triển bình quân là 101,35%/năm tương ứng với mức tăng trung bình là 8040 người/năm. Tuy nhiên, mức tăng và tốc độ tăng từng năm lại biến động khác nhau, đầu giai đoạn mức độ tăng khá nhanh sau đó giảm đi vào ổn định đến cuối giai đoạn tốc độ lại tăng mạnh trở lại.
Phân tích biến động cơ cấu lao động có việc làm chia theo nhiều tiêu thức khác nhau cho những kết quả sau. Về cơ cấu lao động có việc làm theo giới tính tình hình cơ cấu lao động có việc làm tỉnh Bắc Ninh theo giới khá ổn định trong v suốt 10 năm qua. Số lượng nữ cao hơn nhưng mức độ chênh lệch không quá nhiều. Lao động nữ chiếm trung bình khoảng 48%, lao động nam là 52%.
Về cơ cấu lao động có việc làm theo nhóm tuổi, tỷ trọng lao động cho từng nhóm tuổi là không đồng đều. Lao động có việc làm tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 20-24 đến nhóm tuổi 45-49. Sang đến nhóm tuổi 50-54 trở đi, số lượng lao động có việc làm giảm đi đáng kể. Nhóm tuổi 60+ có tỷ trọng lao động có việc làm thấp nhất do đã hết tuổi lao động.
Nhóm tuổi 15-19 cũng tham gia thị trường việc làm ít do còn đi học phổ thông hoặc học nghề. Về cơ cấu lao động có việc làm theo khu vực thành thị/nông thôn, cơ cấu lao động có việc làm chuyển dịch nhanh từ nông thôn ra thành thị. Đây là xu thế tất yếu của mọi thị trường lao động, đi cùng với công nghiệp hóa và đô thị hóa tỉnh Bắc Ninh. Cả số lượng và tỷ trọng lao động làm việc tại khu vực thành thị đều tăng lên từ mức 72.852 người năm 2005 chiếm gần 13% lên hơn gấp đôi năm 2014 đạt 169.176 người tương đương 26,62% tổng số lao động có việc làm tỉnh.
Về cơ cấu lao động có việc làm theo ngành kinh tế, năm 2005, số người lao động có việc làm thuộc khu vực nông lâm, thủy sản là hơn 356 nghìn người thì đến năm 2014, con số này giảm xuống gần một nửa. Trong khi đó, số lượng người làm việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng tăng gấp gần 3 lần, và lao động có việc làm trong ngành dịch vụ cũng tăng gấp đôi. Về cơ cấu lao động có việc làm theo loại hình kinh tế, loại hình ngoài nhà nước bao gồm kinh tế cá nhân/hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tập thể, tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất và có biến động giảm dần theo thời gian, từ năm 2005 đạt tới trên 92% đến năm 2014 chỉ còn 73%. Loại hình đầu tư nước ngoài có sự biến động số lượng cũng như cơ cấu lao động mạnh nhất, tăng từ 1,09% lên 21,22% tổng số lao động có việc làm tỉnh Bắc Ninh.
Về cơ cấu lao động có việc làm theo nghề nghiệp, trong vòng 9 năm, số lượng lao động có kỹ thuật trong nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng vượt bậc, thợ có kỹ thuật láp ráp và vận hành máy móc, thiết bị tăng gấp 3 lần, các nhà lãnh đạo, CMKT bậc cao trong các lĩnh vực, tăng hơn 2 lần. Số lượng thợ thủ công và CMKT bậc trung tăng ít nhất và số lượng lao động giản đơn giảm còn 1/3 trong so sánh năm 2014 với năm 2005. vi Về cơ cấu lao động có việc làm theo trình độ học vấn, lao động có việc làm tại Bắc Ninh qua các năm phần lớn là những người đã tốt nghiệp trung học cơ sở, số lượng người chưa đi học chiếm tỷ lệ thấp nhất chưa đến 1% tổng số lao động có việc làm toàn tỉnh. Năm 2014 so với năm 2005, trình độ học vấn của lao động được nâng cao đáng kể, số lượng người tốt nghiệp trung học phổ thông và theo học nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học tăng mạnh.
Điều này chứng tỏ chất lượng nhân lực tỉnh Bắc Ninh đã được củng cố. Về cơ cấu lao động có việc làm theo vị thế việc làm, tỷ trọng lao động theo từng vị thế việc làm thay đổi rõ rệt. Năm 2005, cơ cấu lao động theo tiêu chí này được phân chia khá đồng đều theo các vị thế: chủ cơ sở, tự làm, lao động gia đình và làm công ăn lương, mỗi vị thế này đều chiếm trên 20%. Tuy nhiên, sau 9 năm, sang năm 2014, số lao động có việc làm theo từng vị thế việc làm lại phân bố có sự khác biệt rõ ràng.
Tỷ trọng lao động tự làm chiếm phần lớn hơn cả với 53,16%, làm công ăn lương chiếm tỷ trọng cũng khá cao là 38,8% trong khi chủ cơ sở và lao động gia đình thu hẹp lại chỉ còn lần lượt là 2,83% và 5,2%. Phân tích thực trạng chất lượng lao động có việc làm ta có, về số giờ làm việc, phần lớn lao động có việc làm lao động từ 35 giờ đến dưới 60 giờ mỗi tuần. Số người làm trên 60 giờ một tuần cũng chiếm tỷ lệ cao, trong khi số người làm dưới 20 giờ chiếm tỷ lệ thấp nhất. Số giờ làm viêc trung bình của người lao động Bắc Ninh năm 2014 được Cục Thống kê Bắc Ninh tính toán là 49,6 giờ/tuần.
Về tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo, theo số liệu của Cục Thống kê Bắc Ninh, tỷ lệ số lao động có việc làm qua đào tạo ngày càng cao. Từ năm 2010 đến 2014, tỷ lệ này đã tăng thêm gần 6 phần trăm điểm, đạt 20,4%. Đáng chú ý, năm 2011 tỷ lệ này tăng vọt từ 14,44% lên 18,9% do tình hình phát triển kinh tế tỉnh đòi hỏi lao động qua đào tạo mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước. Về thu nhập bình quân một lao động đang làm việc, số người có lương bình quân từ 3 đến 5 triệu 1 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đó là mức lương 5 triệu đến dưới 10 triệu/tháng.
Mức lương trên 10 triệu/tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất. Phân tích thực trạng thiếu việc làm cho thấy năm 2014, số người thiếu việc làm là 19891 người trong khi tổng số lao động có việc làm là 635577 người. Như vii vậy có nghĩa là cứ 32 người có việc làm thì có 1 người thiếu việc làm, hay tỉ lệ thiếu việc này là 3,1%. Con số này năm 2005 là 33680 người thiếu việc làm, tỉ lệ thiếu việc làm là gần 6%.
Điều này cho thấy tỉnh Bắc Ninh đã cải thiện đáng kể tình trạng thiếu việc làm trong giai đoạn 2005-2014. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ năm 2005 đến 2012 rồi lại tiếp tục có xu hướng tăng lên. Xét theo giới tính, tỷ lệ thất nghiệp ở nam thường cao hơn nữ. Phân tổ theo khu vực thành thị/nông thôn cho thấy giống với xu hướng chung của cả nước, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị cao hơn hẳn ở nông thôn.
Chương 2 cũng tìm hiểu thống kê năng suất lao động tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 – 2014. Trong đó, năng suất lao động xã hội Bắc Ninh đứng ở vị trí khá cao so với cả nước. Theo giá hiện hành, năng suất lao động của Bắc ninh cao hơn gấp từ 1,8 đến 2,5 lần cả nước. Đây là tín hiệu tích cực cho tăng trưởng kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh.Năng suất lao động khu vực Dịch vụ cao nhất từ năm 2005 đến 2012, đến 2 năm cuối của giai đoạn nghiên cứu thì vị trí thứ nhất chuyển sang cho khu vực Công nghiệp và Xây dựng.
Năng suất lao động khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản thấp nhất chỉ bẳng 1/5, 1/6 năng suất lao động khu vực Công nghiệp và Xây dựng. Phân tích biến động của năng suất lao động bình quân chung cho thấy năm 2014 so với năm 2005, năng suất lao động xã hội bình quân chung của tỉnh Bắc Ninh tăng gấp 4,2577 lần, tương đương tăng thêm 27,56 triệu đồng/người do ảnh hưởng của 2 nhân tố:Bản thân năng suất lao động của các khu vực: nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ đều tăng làm cho năng suất lao động bình quân chung tăng gấp 2,73 lần hay tăng 22,82 triệu đồng/người; Cơ cấu lao động tại 3 khu vực thay đổi làm cho năng suất lao động bình quân chung tăng 1,56 lần tương đương tăng 4,74 triệu đồng/người.Tác giả còn đi vào Phân tích biến động của GRDP tỉnh Bắc Ninh do ảnh hưởng của lao động.