Mở đầu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Thí nghiệm vật liệu và thiết kế cấp phối Chương 4: Thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của hỗn hợp bê tông nhựa. Chương 5: Kết luận – kiến nghị và định hướng nghiên cứu tiếp theo Hình 1. Sơ đồ trình tự thử nghiệm trong phòng -5- CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG NHỰA 2.
Định nghĩa và phân loại Bê tông nhựa là hỗn hợp giữa nhựa đường, cốt liệu đá, khoáng vật tạo nên một hỗn hợp khi nén chặt lại có một cường độ nhất định chịu được bào mòn có thể trải để làm lớp áo đường. Được sử dụng trong các công trình như ; đường ô tô, sân bay, bến bãi…. Dựa vào tỷ lệ của các thành phần cốt liệu hay sự phân bố cỡ hạt có thể phân loại bê tông nhựa thành 3 loại : cấp phối hở (Open-graded), cấp phối gián đoạn (Gap-Graded), cấp phối liên tục (Continuous-graded). Cấp phối hở thường được dùng để chế tạo bê tông nhựa rỗng (Porous Asphalt) ứng dụng cho lớp mặt thoát nước.
Cấp phối gián đoạn thường được ứng dụng để chế tạo lớp phủ mỏng tạo nhám (VTO- theo tiêu chuẩn 22TCN 345-06), Bê tông đá vữa nhựa (Stone Mastic Asphalt), Lớp bê tông nhựa tạo nhám Nova Chip…. Cấp phối liên tục được ứng dụng để chế tạo bê tông nhựa chặt (Dense Graded- theo TCVN8819:2011). Cấp phối gián đoạn Cấp phối liên tục Cấp phối hở % Lọt sàng (%) Cỡ sàng (mm) Hình 2. Các dạng cấp phối.
-6- Dựa vào nhiệt độ sản xuất có thể phân ra thành: bê tông nhựa rải nóng, bê tông nhựa rải ấm và bê tông nhựa rải nguội. Các tính chất của bê tông nhựa a) Mô đun độ cứng Độ cứng là khả năng chống biến dạng của hỗn hợp bê tông nhựa dưới tác động của tải trọng. Vì hỗn hợp bê tông nhựa là một vật liệu nhớt đàn hồi, độ cứng của hỗn hợp bê tông nhựa thông thường bao gồm các thành phần đàn hồi và nhớt. Tỷ lệ của mỗi thành phần này chủ yếu dựa vào nhiệt độ và thời gian gia tải.
Với thời gian chịu tải ngắn và nhiệt độ làm việc thấp, hỗn hợp bê tông nhựa sẽ ứng xử đàn hồi. Ngược lại, mối quan hệ giữa ứng suất và biến dạng sẽ theo mô hình nhớt khi làm việc ở nhiệt độ cao và thời gian gia tải lâu [1] (Read và Whiteoak, 2003). Mô đun độ cứng của bê tông nhựa được xác định theo công thức sau: (2.1) E Trong đó, E : mô đun độ cứng : Ứng suất tác dụng : Biến dạng gây ra bởi ứng suất b) Biến dạng vĩnh viễn Biến dạng vĩnh viễn hay còn gọi là biến dạng dư là hiện tượng biến dạng không thể phục hồi, được tích lũy sau khi dỡ tải trong mỗi chu kỳ gia tải.2 minh họa các biến dạng khi tác dụng tải trọng. Biến dạng bắt đầu gia tăng khi tải tác dụng.
Sau khi tải được dỡ, thành phần biến dạng đàn hồi sẽ phục hồi ngay lập tức. Ngoài ra còn có một thành phần được gọi là biến dạng đàn - nhớt sẽ hồi phục theo thời gian. Tuy nhiên, sự biến dạng vĩnh viễn, do tính dẻo của nhựa đường, không thể phục hồi [2] (Perl và cộng sự, 1983). Mặc dù biến dạng nhớt và dẻo này rất nhỏ sau mỗi chu kỳ gia tải, nhưng biến dạng này sẽ tích lũy lớn dần sau hàng triệu chu kỳ gia tải (hình 2.
Điều này sẽ gây ra hiện tượng lún mặt đường. -7- = hằng số Ứng suất Thời gian GIA TẢI DỠ TẢI Biến dạng Đàn hồi Đàn nhớt Đàn – dẻo Vĩnh viễn ( Dẻo - Nhớt) Thời gian Hình 2. Ứng xử của mặt đường bê tông nhựa với tải trọng tĩnh. Biến dạng của mặt đường bê tông nhựa chịu tải trọng bánh xe.
c) Tính mỏi của hỗn hợp bê tông nhựa Đặc trưng mỏi có thể được định nghĩa là: "Hiện tượng bị gãy khi ứng suất lặp đi lặp lại hoặc dao động có giá trị tối đa thường nhỏ hơn so với độ bền chịu kéo của vật liệu" [3] (Pell, 1988). Tuy nhiên, ứng suất kéo gây ra trên kết cấu áo đường -8- không chỉ là do tải trọng giao thông mà còn do ảnh hưởng của môi trường xung quanh, ví dụ, sự biến động của nhiệt độ môi trường xung quanh. Read (1996) [4] cũng xác định tính mỏi như: "Đặc trưng mỏi trong mặt đường bê tông nhựa là hiện tượng nứt. Nó bao gồm hai giai đoạn chính, nứt ban đầu và nứt lan truyền, và được gây ra bởi ứng suất kéo tổng thể trong kết cấu áo đường không chỉ do tải trọng giao thông mà còn do thay đổi nhiệt độ và hoạt động thi công xây dựng".
Các dữ liệu thực nghiệm cho thấy rằng: biên độ cường độ 30-200 microstrain là điều kiện có thể xảy ra phá hoại do mỏi [5] (Brown, 2000). Độ bền của vật liệu bê tông nhựa Mặt đường bê tông nhựa nói chung là để chịu tác động của tải trọng giao thông trong điều kiện khí hậu nhất định. Trong vòng đời khai thác, mặt đường bê tông nhựa phải chịu được những tác động để nâng cao được hiệu quả sử dụng. Do đó, độ bền của mặt đường bê tông nhựa được khái niệm như sau (trích dẫn trong [6] Scholz, 1995): "Độ bền của hỗn hợp bê tông nhựa được định nghĩa là khả năng chống lại các tác động của nước, lão hóa và sự thay đổi nhiệt độ của hỗn hợp vật liệu, trong quá trình khai thác mà không bị suy giảm đáng kể trong thời gian dài ".
Cơ chế lão hóa của bê tông nhựa Bê tông nhựa là hỗn hợp của nhựa đường và cốt liệu đá nên có thể hiểu cơ chế lão hóa của bê tông nhựa chính là cơ chế lão hóa của nhựa đường trong hỗn hợp. Lão hóa của bê tông nhựa được phân làm 2 thời kỳ : thời kỳ hóa già nhanh (Short- term Aging) xảy ra trong quá trình sản xuất và thi công bê tông nhựa và thời kỳ hóa già lâu (Long- term Aging) xảy ra trong quá trình khai thác của bê tông nhựa. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự lão hóa của nhựa đường nhưng chủ yếu dựa trên 4 cơ chế chính, đó là: - Mất thành phần dầu do bị hấp thụ vào cốt liệu. - Thay đổi thành phần hóa học do các phân tử trong nhựa đường bị phản ứng ôxy hóa bởi ôxy trong môi trường.
- Cấu trúc phân tử gây ra hiệu ứng thuận nghịch (hóa cứng vật lý). -9- - Mất mát thành phần bi tum do bay hơi. nh sơ đồ hóa già nhựa đường Hình 2. Thay đổi thành phần của nhựa đường trong quá trình trộn, rải và khai thác [7] (Chipperfield và các cộng sự, 1970).
Một số tác nhân ảnh hưởng đến sự lão hóa Ảnh hưởng của nhiệt độ trộn bê tông nhựa Yêu cầu khi trộn phải bảo đảm nhiệt độ đủ cao để nhựa đường phân bố đều và nhanh trên bề mặt cốt liệu, do đó phải cố gắng hết mức để giảm thiểu thời gian trộn ở nhiệt độ thấp nhất. Nhiệt độ trộn càng cao thì mức độ oxy hóa của lớp nhựa đường mỏng phủ trên bể mặt cốt liệu càng lớn. Điều này được minh họa ở đổ thị hình 2.5, khi tăng nhiệt độ trộn thêm 5,5°c đối với thời gian trộn tiêu chuẩn 30 giây, điểm hóa mềm của nhựa đường [8] (Whiteoak và cộng sự (1989)) sẽ tăng thêm 1°C. Do đó người ta phải quy định mức nhiệt tối thiểu và tối đa cho quá trình trộn.
Nếu cốt liệu bị đun quá nóng có thể xảy ra hiện tượng nhựa đường sẽ bong khỏi cốt liệu trong thời gian bảo quản tại trạm trộn hay trên đường vận chuyển đến công trường. - 10 - Thay đổi nhiệt độ hóa mềm, oC Nhiệt độ trộn, oC Hình 2. Ảnh hưởng của nhiệt độ trộn đến nhiệt độ hóa mềm. Ảnh hưởng của màng nhựa bao bọc cốt liệu Trong quá trình trộn với cốt liệu, tất cả các cốt liệu và bột khoáng đều được phủ một lớp màng nhựa đường mỏng, lớp màng đó thường có độ dày khoảng 5 - 1 0 micrôn.
Như vậy, khi trộn nhựa đường với cốt liệu nóng và dàn ra thành lớp mỏng thì điều kiện để quá trình ôxy hóa và bay hơi các thành phần dầu là rất thuận lợi. Sự hóa cứng của nhựa đường trong quá trình này là rất đáng kể và phải được cân nhắc khi lựa chọn cấp nhựa đường để sử dụng. Người ta ước tính trong quá trình trộn thảm nhựa đường bị hóa cứng xấp xỉ một cấp có nghĩa là 100 pen xuống 70 pen, 70 pen xuống 50 pen. Tuy vậy, mức độ hóa cứng phụ thuộc vào một số yếu tố như nhiệt độ, thời gian trộn, hàm lượng nhựa đường, tức là độ dày của lớp màng nhựa đường phủ trên cốt liệu.
Việc ngăn chặn nguyên nhân làm nhựa đường hóa cứng trong quá trình trộn thảm phụ thuộc vào việc kiểm soát một cách kỹ lưỡng tất cả các yếu tố này. Đặc biệt, việc kiểm soát nhiệt độ và hàm lượng nhựa đường là cực kỳ quan trọng. Tương tự, hình 2.6 cho thấy rằng giảm độ dày của lớp màng nhựa đường sẽ làm tăng đáng kể chỉ sổ lão hóa (tỷ lệ giữa độ nhớt của nhựa đường lão hóa a so với độ nhớt của nhựa đường ban đầu 0) của nhựa đường [9] (Jacob (1981)). Ảnh hưởng của độ dày màng nhựa tới chỉ số lão hóa.
Ảnh hưởng của độ rỗng lớp bê tông nhựa mặt đường Hình 2.7 Tác động của hàm lượng lỗ rỗng đối với quá trình lão hòa của nhựa đường [10] (Lubbers, H. Phần lớn sự hóa cứng của nhựa đường xuất hiện trong quá trình trộn và tiếp tục hóa cứng nhưng ở quy mô nhỏ hơn trong quá trình bảo quản và vận chuyển nóng. Tuy nhiên, với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sự hóa cứng nhựa đường cũng có thể xảy ra trên mặt đường. Yếu tố cơ bản tác động đến sự hóa cứng của nhựa đường trên mặt đường là độ rỗng của hỗn hợp thảm sau khi đầm nén.7 mô tả các đặc điểm của nhựa đường ỏ hiện trường của bêtông nhựa 5 năm tuổi có độ rỗng từ 3 - 12% (.
Với độ rỗng nhỏ hơn 5% thì nhựa đường rất ít bị hóa cứng - 12 - trên đường. Tuy vậy, với độ rỗng lớn hơn 9% thi độ kim lún ở hiện trường giảm đi từ 70 xuống dưới 25. Các thí nghiệm trong phòng mô phỏng sự lão hóa của nhựa đường và bê tông nhựa Lão hóa nhựa đường Trong thí nghiệm lò thử nghiệm màng mỏng nhựa đường (TFOT - ASTM D 1754), các điều kiện trong thí nghiệm được mô phỏng sát hơn với các điều kiện thực tế nhựa đường bị lão hóa trong ngắn hạn (quá trình sản xuất, thi công).