Chương 1:MỞ DAU Chương này giới thiệu đề tài luận văn, nêu bật vai trò của con tôm trong nên kinh tế quốc dân và điểm qua tình hình chế biến tôm trên thế giới và Việt Nam. Trình bày tầm quan trọng của nhu câu cơ khí hóa và tự động hóa quá trình phân cỡ tôm xuât khâu. iới thiệu đề tài Trong những năm gan đây, chế biến và xuất khẩu tôm đã trở thành một bộ phận quan trong trong cơ câu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu đến 2013 chỉ đứng sau gạo trên cả cá tra, vươn lên thành quốc gia xuất khẩu tôm đứng hang thứ 3 thế giới. Theo hiệp hội chế biến và xuất khâu thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2013, Việt Nam xuất khâu thủy sản dat gần 6,7tỷ USD, trong đó xuất khẩu tôm thu về 3,1 tỷ USD.
Xuất khẩu tôm chiếm 46% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Mười thị trường nhập khẩu tôm chính của Việt Nam gồm Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Australia, Canada, Dai Loan va ASEAN. [1] Xuất khẩu tôm tăng mạnh đặt ra yêu cau rất lớn về nguôn nhân lực 1an chat lượng sản phẩm. Khảo sát tại các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu hang đầu Việt Nam tại tỉnh Sóc Trăng, công đoạn phân cỡ tôm chiếm tới 18,4% khối lượng công việc chế biến tôm thành phẩm, tuy nhiên, thực tế hiện nay các nhà máy chế biến tôm sử dụng chủ yếu nhân công dé thực hiện việc phân cỡ tôm thì sự tăng nhanh của sản lượng tôm sẽ kéo theo yêu cau tăng số lượng nhân công va mức độ quản ly chất lượng cao hơn, điều này sẽ rat khó thực hiện với giá nhân công ngày cảng tăng cao và nguôn nhân lực đang khan hiêm.
Từ thực tế đó, dé tài nghiên cứu thiết kế máy phân cỡ tôm có khả năng thay thé con người trong quá trình phân cỡ được đặt ra để giải quyết van dé về nguôn lao động trong qui trình chế biến tôm xuất khâu nhưng vẫn đảm bảo cho năng suất cao, đồng thời chất lượng cũng như an toàn vệ sinh thực phẩm trong công đoạn phân cỡ tôm cũng được đảm bảo. Nghiên cứu thiết kế cân băng tải dé phân loại tôm xuất khẩu Trang 9 1. Vai trò của con tôm trong nên kinh tê quoc dân Những năm qua thủy sản liên tục là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Trong đó chế biến thủy sản đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển thủy sản nước nhà.
Lượng hàng thủy sản xuất khâu của Việt Nam ra thị trường ngày càng gia tăng cả số lượng cũng như chất lượng. Thống kê từ Hải quan cho thay, năm 2013, Việt Nam xuất khẩu tôm sang 88 thị trường trên thế giới, thu về 3,1 ty USD, tăng 39,1% so với năm 2012. Xuất khẩu tôm tăng mạnh không chỉ bù đắp cho sự tăng giảm trong xuất khẩu những mặt hàng thủy sản khác va còn giúp xuất khẩu thủy sản nói chung vượt mục tiêu 6,5 tỷ USD đã dé ra và đạt trên 6,7 ty USD, tăng 9,7% so với năm 2012. Xuất khâu tôm chiếm 46% kim ngạch xuất khâu thủy sản của cả nước [1].
m Hải sản khác 13,0% Tôm © Mực, bạch tuộc 6,7% H Cá ngừ 7,8% Nguồn: VASEP 2014 Hình 1.2: Các sản phẩm xuất khẩu thủy sản chính năm 2013 của Việt Nam Nghiên cứu thiết kế cân băng tải dé phân loại tôm xuất khẩu Trang 10 Về phía cơ quan quản lý nhà nước thì ngày 16/8/2013, tại Quyết định số 1445/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Nội dung chủ yếu là thực hiện công nghiệp hóa vào năm 2020, hiện đại hóa vào năm 2030 ngành chế biến thủy sản xuất khẩu dé đạt được mục tiêu là tăng trưởng 7-8%/ năm. Kích cỡ của tôm và giá thành Tôm là một sản phẩm được giao dịch theo kích thước và chủng loại, sản phẩm tôm dao động từ 20 con / kg đến 70 con / kg. Tôm có kích thước lớn hơn sẽ cho giá cao hơn.
Nam 2010, tôm với kích thước 31- 40 con / kg được nuôi nhiều nhất trên thế giới với khoảng 23%. Xếp hạng thứ hai là khoảng 41- 50 con / kg. Tôm có kích thước lớn hơn 26 - 30 con / kg chiếm khoảng 16%. Kích cỡ tôm lớn của nhỏ hơn 20 con / kg ít nuôi do giá thành cao và ưu tiên cho xuất khẩu sang thị trường nhập khẩu nghiêm ngặt như Mỹ chiếm 18% khối lượng nhập khẩu (Hình 1.
Theo đó, kích thước của tôm nuôi phụ thuộc vào nhu câu của khách hàng. Sản xuất tôm theo kích cỡ của thế giới thể hiện trong hình 1. 100% - i _ an 1% count/kg 90% + 18% 9%) me ea ø<20 80% -¬ HS TQ @ 21-25 12% 70% ~ 26-30 60% | 31-40 + ] 41-50 40% + m 51-60 30% ¬ 61-70 20% + 10% - m>?0 0% } US import Americas World Source: GOAL and World Bank (2011) Hình 1.3: Sản lượng tôm theo kích cỡ trung bình nam 2010 Nghiên cứu thiết kế cân băng tải dé phân loại tôm xuất khẩu Trang lÌ Giá tôm trên thị trường thé giới đều dựa trên giá của ba thị trường nhập khẩu chính, cụ thể là Mỹ, Nhật Bản và EU. Ngoài các yêu tô khôi lượng cung, gia tôm cũng bi ảnh hưởng mạnh bởi tiên tệ, tỷ giá hôi đoái của các nước nhập khâu, bệnh tôm va vân đê môi trường trong nước sản xuât, và các sự kiện bat ngờ như cuộc khủng hoảng kinh tê hay thiên tai.
Vi du, gia tôm tại thi trường Mỹ đã giảm 39% từ 11,58 USD / kg vào thang Tam năm 2007 còn 7,04 USD / kg vào tháng Tam năm 2009 (Hình 1. Việc tăng thuế chống bán phá giá tôm Thái Lan đã làm cho giá nhập khẩu tôm vào Mỹ tăng 31% trong tháng Giéng năm 2009 (10,71 USD / kg) so với thang 8 nam 2008 (7,38 USD /kg). Từ năm 2010, cuộc khủng hoảng kinh tế dường như đã giảm bot và nhu cầu tiêu thụ tôm đã tăng mạnh hơn. Hiện tại, nguôn cung tôm cho thị trường thế 2101 bi giảm do sự việc giảm sản lượng trước đó của nhiều quốc gia do giá thấp trong năm 2008 và 2009.
Giá tôm bat đầu tăng trở lại trong thang 10 năm 2010 (8,02 USD / kg) và tháng Hai năm 2012 (8,37 USD /kg). Shrimp shell-on headless, 26-30 count per kg, USD/kq Hình 1.4: Xu hướng giá nhập khẩu tôm của Mỹ Nghiên cứu thiết kế cân băng tải dé phân loại tôm xuất khẩu Trang 12 1. Tình hình chế biến tôm trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình chế bién tôm trên thé giới Tôm là một trong những loại thủy sản phổ biến nhất trên thế giới.
Nuôi tôm xuất hiện trên thế 2101 tu nhiéu thé ky trước, nhưng loại hình sản xuất hiện đại của nó chỉ bắt đầu vào những năm 1930 sau khi các nhà nghiên cứu Nhật Bản, Motosaku Fujinaga, thực hiện nghiên cứu của ông trên ao nuôi từ ấu trùng tôm kuruma (Penaeus japonicus) (Shigueno, 1975; Weidner va Rosenberry, 1992). Với sự phát triển của công nghệ, sản xuất ấu trùng tôm được thực hiện day đủ vào năm 1964 dé đáp ứng nhu cau con giống cho tôm nuôi trong đó tạo ra một sự bùng nd trong sự phát triển của ngành vào những năm 1990 (Rosenberry, 1998). Do đó, các trang trại nuôi tôm dang được xây dựng sau đó dé đáp ứng nhu cau tôm trên thé giới với khoảng năm triệu tân tôm sản xuất hàng năm (WFF, 2010). [2] Có hai khu vực chính dé nuôi tôm trên thế giới, phương Tây và phương Đông.
Phương Tây bao gồm các nước Latin như Brazil và Ecuador. Phương Đông bao gôm các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt Nam, Bangladesh và Ấn Độ. Trong khi phương Tây thống trị sản xuất tôm thẻ chân trăng (Penaeus vannamei), còn phương Đông sản xuất cả tôm sú (P. monodon) và tôm thẻ chân trang (Wyban, 2009).
Theo FAO, tôm thẻ chân trang là loại tôm được nuôi nhiều nhất trên toàn thế giới với khoảng 39%. Tôm sú đứng thứ hai với khoảng 17% (Hình 1. Nuôi tôm là lĩnh vực sản xuất thực phẩm phát triển nhanh nhất trong những năm gan đây, tôm bồ sung chất đạm cho người và bổ sung phong phú cho nguôn động vật thủy sản hoang dã. [2] Theo Fuchs cùng các cộng sự (1999) và Rosenberry (1998), Châu Á dẫn đầu trong lĩnh vực nuôi tom, chiếm gan 80% sản lượng tôm thé giới.
Da số tôm nuôi được xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản. Sự phát triển của sản xuất tôm đã tạo ra thu nhập đáng kể cho các nước đang phát triển và phát triển, đặc Nghiên cứu thiết kế cân băng tải dé phân loại tôm xuất khẩu Trang 13 biệt la ở chau A và châu Mỹ. Tôm sẽ trở thành một san phâm xuât khâu chiên lược vi gia tri xuât khâu cao cua nó cho nhiêu quôc gia như Việt Nam, Thai Lan, Indonesia, Bangladesh và Ấn Độ. Penaeus vonnamei 39% Northern ; prawn Black tiger 7% shrimp Akiamipaste 17% shrimp 10% Source: FAO, Globlefish (2010) Hình 1.5: Các loại tôm chính được nuôi trồng Bên cạnh những đóng góp to lớn của nó đến nên kinh tế thế giới, sự phát triển nhanh chóng của ngành tôm cũng đã tạo ra nhiều tác động tiêu cực ma không có giải pháp khắc phục như 6 nhiễm nước, bệnh tôm, và các hộ gia đình bị mat kế sinh nhai (Theo The Third World Network, năm 2012).
Tình hình chế bién tôm ở Việt Nam Việt Nam là một trong những nước sản xuất tôm hàng dau thé giới. Sự phát triển của nghề nuôi tôm ở Việt Nam đã bị ảnh hưởng mạnh bởi sự mở rộng của tôm nuôi trồng thủy sản trong khu vực ven biển châu Á trong những năm 1990. Ngoài việc là một nước xuất khẩu gạo, Việt Nam cũng chuyển sang định hướng xuất khâu thủy sản và nhanh chóng thay đối dé trở thành một trong mười nha xuất khâu tôm hàng dau thé giới. Nuôi tôm đã đóng một vai trò quan trọng trong nên kinh tế của Việt Nam.
Nó đứng thứ ba trong số các lĩnh vực kinh tế trọng điểm nông nghiệp của dat nước sau gạo và cá tra.Tổng khối lượng xuất khẩu tôm dat 240.985 tan, trị giá 2,1 tỷ Nghiên cứu thiết kế cân băng tải dé phân loại tôm xuất khẩu Trang 14 USD vào năm 2010. So với năm 2005, khối lượng xuất khẩu trong năm 2010 tăng 51% và giá trị xuất khẩu tăng 53,6%. Trong năm 2011, giá trị xuất khẩu đạt 2,4 ty USD, tới năm 2013 đạt 3,1 tỷ USD (hình 1.00% + China Thailand Vietnam indonesia Bangladesh -10.00% ¬ 2% Source: FAO, GOAL and World Bank (2011) Triéu USD 3.6: Sản lượng tôm ở Châu A Nguồn: VASEP 2014 Hình 1.