Đặt vấn đề Ngành công nghiệp dầu khí là ngành công nghệ cao. Thăm dò khai thác dầu khí là ngành khai thác khoáng sản nằm sâu trong lòng đất được hình thành từ các trầm tích hàng ngàn năm trước nên việc thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên này đòi hỏi công nghệ hiện đại, chi phí đầu tư lớn hơn so với các ngành công nghiệp khác. Công nghiệp dầu khí là ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn, rủi ro nhiều và lợi nhuận cao. Tại Việt Nam, ngành dầu khí là một ngành kinh tế trọng điểm có đóng góp lớn cho sự phát triển của đất nước.
Ngành dầu khí nói chung và Petrovietnam nói riêng luôn có những đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước, chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài mang vốn và công nghệ hiện đại vào Việt Nam. Trong giai đoạn 2008 - 2015, Petrovietnam luôn duy trì vai trò là đầu tàu kinh tế của đất nước. Trong khi khối doanh nghiệp Nhà nước đóng góp khoảng 42% GDP của cả nước, riêng Petrovietnam đã chiếm khoảng 16 - 18% GDP [1]. Bảng 1: Đóng góp của Petrovietnam trong GDP [1] Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Doanh thu hợp 127,0 137,0 235,0 325,0 363,0 390,0 366,0 311,0 nhất của PVN GDP 1.192,9 Đóng góp của PVN trong 18,9 16,0 24,0 26,6 25,9 24,3 23,3 13,0 GDP (%) Nộp ngân sách 121,8 88,0 110,4 160,8 186,3 195,4 189,4 115,1 của PVN Đóng góp của PVN trong ngân 29,2 22,6 27,9 27,1 24,4 24,1 23,3 13,0 sách (%) Đóng góp của thu từ dầu tho 24,0 12,9 14,4 11,5 18,3 12,1 12,1 7,1 trong thu ngân sách (%) (Đơn vị: Nghìn tỷ đồng) Mỗi năm để đảm bảo được sản lượng khai thác theo kế hoạch, trung bình mỗi năm các công ty trực thuộc hoặc liên kết với PVN cần sử dụng khoảng 10.000 tấn ống chống, ống khai thác.
Nguồn ống này dựa trên 2 nguồn cấp chính: nhập khẩu và một số được 1 Luan van sản xuất trong nước. Các ống này được ghép nối với nhau tạo thành hàng km dài (sâu) nhờ mối ghép ren. Để các mối nối đạt được chất lượng cao, ngoài việc tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu của các nhà cấp phép, các cá nhân thực hiện mối nối phải kiểm soát dung sai theo tiêu chuẩn đã được quy định, và thông tin của từng loại đầu như báo cáo đo ren trong thời gian khoảng 10 năm. Mối nối ren phải đạt độ bóng cao, kích thước đạt độ chính xác cao +/-0.0001 inch, bề mặt ren phải đat độ bóng Ra 0.32, không được trầy xước, mòn, rỗ, dập,….
Bên cạnh đó, ren phải đảm bảo sạch, khô, không dính nước hoặc các hóa chất gây cho ren bị gỉ, sét,…. Vì vậy, ren ống sau khi kiểm tra xong luôn được lau khô, bôi mỡ chuyên dùng (mỡ bảo vệ ren) và lắp nắp bảo vệ ren. Tùy thuộc vào kế hoạch khoan của chủ đầu tư mà sẽ sử dụng loại mỡ bảo vệ ren phù hợp. Hiện nay, công nghệ bảo vệ mặt ren sau gia công cũng chỉ là bôi mỡ bảo vệ và lắp nắp bảo vệ ren.
Trong khi đó, việc kiểm tra ren cho ống lưu kho trước khi đưa vào sử dụng thì được thực hiện thường xuyên. Nắp bảo vệ có thể tái sử dụng để giảm chi phí, hay người ta tái sử dụng nắp bảo vệ trong quá trình sản xuất để quay đầu ống. Nắp ống đạt yêu cầu sử dụng là những nắp phải sạch, không có nước, không dính phoi tiện, bụi bẩn, bùn đất,…. Vì vậy, các nắp bảo vệ được sử dụng lại luôn phải rửa sạch mỡ bảo vệ ren, bụi bẩn, dầu nhớt, được lau khô và được kiểm tra kỹ.
Hiện nay tại Vietubes, nắp bảo vệ được rửa thủ công bằng cách dùng bàn chải rửa với dầu hỏa, sau đó được lau và phơi khô. Việc rửa thủ công nói trên mất thời gian, không đảm bảo độ sạch, tốn nhiều nhân lực, chi phí cao, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người lao động. Bên cạnh đó, hiện nay công nghệ rửa siêu âm đã được ứng dụng rộng rãi để làm sạch các vết bẩn bám lâu ngày trên bề mặt mọi chất liệu như: dầu mỡ, bụi bẩn, dấu vân tay,… Cho phép làm sạch nhanh, tiết kiệm thời gian, làm sạch được những chi tiết nhỏ, tinh xảo mà rửa thủ công không làm sạch được. Hiện nay rửa siêu âm được ứng dụng nhiều trong nhiều lĩnh vực gồm rửa các chi tiết máy, khuôn mẫu, rửa dụng cụ y tế, rửa đồ trang sức như vàng bạc kim cương, rửa các linh kiện điện tử, bo mạch,….
Với mong muốn bán tự động hóa việc rửa nắp bảo vệ tiến đến công tác rửa đầu nối ống và ống với số lượng lớn trong thời gian ngắn, tiết kiệm chi phí, giảm ảnh hưởng xấu của dầu hỏa đến sức khỏe con người,… .Từ các nguyên do trên, đề tài “Nghiên cứu phát 2 Luan van triển thiết bị và xác định chế độ hoạt động khi rửa nắp bảo vệ ren ống dầu khí bằng sóng siêu âm” đã được triển khai với định hướng giải quyết và cải tiến công việc rửa nắp bảo vệ ren ống dầu khí tại công ty Vietubes. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật siêu âm để rửa nắp bảo vệ ren ống dầu khí theo cơ chế cơ học, bán tự động thay cho hoạt động rửa thủ công. Qua đó giúp giảm thời gian, nâng cao năng suất, hiệu quả công việc rửa nắp bảo vệ ren ống dầu khí phục vụ sản xuất.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định các tính chất cơ lý của nắp bảo vệ ren ống dầu khí; - Nghiên cứu tính khả thi của việc ứng dụng kỹ thuật siêu âm rửa nắp bảo vệ ren ống dầu khí; - Nghiên cứu đề xuất công nghệ rửa nắp bảo vệ ren ống bằng kỹ thuật siêu âm; - Tính toán thiết kế, chế tạo thiết bị rửa nắp bảo vệ bằng kỹ thuật siêu âm; - Thử nghiệm, đánh giá khả năng hoạt động của thiết bị rửa nắp bảo vệ và xác định chế độ hoạt động phù hợp. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu - Nắp bảo vệ ren ống dầu khí; - Công nghệ và thiết bị làm sạch chi tiết/sản phẩm bằng kỹ thuật siêu âm.2 Phạm vi nghiên cứu Do máy rửa nắp bảo vệ ren ống bằng kỹ thuật siêu âm chưa có mặt trên thị trường nên máy được nghiên cứu chế tạo thử nghiệm ở dạng một thiết bị thử nghiệm.
Thiết bị thử nghiệm rửa nắp bảo vệ ren ống bằng kỹ thuật siêu âm ứng dụng cho nắp bảo vệ đường kính 9-5/8 inch. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4.1 Ý nghĩa khoa học - Đề xuất phương án kết cấu cho máy rửa nắp bảo vệ ren sử dụng sóng siêu âm; - Xác định tính khả thi, kinh tế khi rửa nắp bảo vệ ren sử dụng sóng siêu âm so với các phương pháp đang được sử dụng hiện nay.2 Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu giúp xác định giải pháp khả thi cho việc sử dụng sóng siêu âm để làm sạch các nắp bảo vệ ren ống dầu khí, qua đó giúp giảm độc hải cho người lao động, thu gom chất thải bẩn dễ dàng, giảm chi phí sản xuất; - Mang đến hiệu quả kinh tế khi sản xuất, giảm số lượng lao động khi thực hiện rửa nắp, hạn chế ô nhiễm môi trường do vương vải dầu bẩn khi rửa nắp thủ công. Kết cấu của đề tài Kết cấu của đề tài gồm có 4 chương chính với các nội dung: - Mở đầu Giới thiệu tính cấp thiết, nhu cầu từ thực tế và cơ sở lựa chọn đề tài. - Chương 1: Tổng quan Trình bày các nội dung liên quan đến nắp bảo vệ ren ống, kỹ thuật siêu âm, các máy thiết bị làm sạch chi tiết/sản phẩm bằng kỹ thuật siêu âm, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan và định hướng nghiên cứu.
- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Đề cập các nội dung nghiên cứu, thực hiện của đề tài cùng các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. - Chương 3: Cơ sở lý thuyết Trình bày các cơ sở lý thuyết và các thông số liên quan đến đề tài thực hiện. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày, phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu triển khai thực hiện đề tài. - Kết luận và kiến nghị - Phụ lục 4 Luan van CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu giếng khoan, ống dầu khí 1.1 Giếng khoan Giếng khoan dầu là công trình nhân tạo hình trụ được thi công vào vỏ trái đất, có quỹ đạo thẳng đứng/ngang/xiên/cong nhằm mục đích khai thác dầu mỏ.
Các thành phần của giếng khoan gồm miệng giếng, thành giếng, đáy giếng và trục giếng (hình 1.1: Cấu trúc giếng khoan [2] Cấu trúc của thành giếng khoan dầu khí gồm các lớp ống như sau: ống chống định hướng, ống chống bề mặt, ống chống trung gian, ống khai thác với vanh xi măng. Để có được giếng khoan dầu khí người ta sử dụng công nghệ và thiết bị chuyên dụng khoan giếng như choòng khoan, bộ dụng cụ khoan,… để khoan phá hủy đất đá đến độ sâu yêu cầu với mục đích mở lỗ. Các ống chống được thả xuống và được bơm trám xi măng bên ngoài ống đề hình thành đầu giếng. Sau khi đầu giếng đã được lắp đặt xong, tiếp tục triển khai các công việc chuẩn bị để khoan đến chiều sâu chống cho các cột ống tiếp theo.
Công việc được thực hiện tuần tự cho đến khi thả được ống khai thác vào trong túi dầu, túi khí. 5 Luan van Hình 1.2: Choòng khoan 1.2 Ống chống và ống khai dầu khí 1.1 Khái quát Sản phẩm ống chống dầu khí là những đoạn ống dài tối đa khoảng 13 m và có đường kính từ 2-3/8” đến 30” được chế tạo bằng các loại thép chuyên dùng. Các ống này có kết cấu giống nhau gồm một đầu có ren ống lỗ, một đầu có ren ống ngoài để giúp các ống này có thể kết nối với nhau nhờ mối nối ren. Sản phẩm ống chống dầu khí thông dụng gồm các loại như sau: - Ống chống dầu khí: là những ống thép có đường kính ngoài từ lớn 4-1/2 inch đến 30 inch, được thả vào trong giếng khoan phục vụ cho công tác gia cố thành giếng trong quá trình khai thác cũng như trong quá trình khoan.3: Ống chống dầu khí Hình 1.4: Ống khai thác - Ống khai thác dầu khí: là những ống thép có đường kính ngoài từ 2-3/8 inch đến 4-1/2 inch, được thả vào trong giếng khoan phục vụ cho công tác vận chuyển dầu hoặc khí từ giếng khoan.