CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Khái niệm “Phương thức tín dụng chứng từ là một sự cam kết thanh toán có điều kiện bằng văn bản của ngân hàng, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả tiền cho người hưởng lợi hay chấp nhận, mua hối phiếu do người hưởng lợi phát hành; hoặc cho phép một ngân hàng khác trả tiền, chấp nhận, hay mua hối phiếu đó khi mọi điều kiện đặt ra trong thư tín dụng đều được thực hiện đầy đủ”. [16] Phương thức tín dụng chứng từ có đặc trưng là ngân hàng và các bên liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ mà không dựa trên hàng hoá hoặc dịch vụ, nghĩa là ngân hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán là hoàn toàn dựa vào việc kiểm tra bộ chứng từ chứ không phải là trực tiếp kiểm tra hiện trạng hàng hoá.
Phương thức tín dụng chứng từ được điều chỉnh bởi “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ”, số xuất bản 600 – UCP 600 của phòng thương mại quốc tế ICC. Bản quy tắc này mang tính chất pháp lý tuỳ, hoàn toàn do các chuyên gia thuộc khu vực tư nhân soạn thảo, ra đời nhằm làm giảm sự bất đồng giữa các bên thuộc các quốc gia khác nhau trong thương mại quốc tế. Điều đó có nghĩa là quy tắc này áp dụng cho bất kỳ tín dụng chứng từ nào có nội dung chỉ ra một cách rõ ràng nó phụ thuộc quy tắc này. Trong phương thức tín dụng chứng từ, thư tín dụng (L/C – Letter of credit) được coi là một phương tiện thanh toán, một văn bản pháp lý quan trọng trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Đó là bức thư do một ngân hàng lập ra trên cơ sở yêu cầu của khách hàng là người nhập khẩu, trong đó thể hiện cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C. Luan van 8 Thư tín dụng được lập ra trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, tuy nhiên khi L/C đã được mở thì nó lại hoàn toàn độc lập với các hợp đồng đó. Đó là vì khi thanh toán, ngân hàng chỉ căn cứ vào các chứng từ được quy định trong L/C chứ không căn cứ vào hợp đồng. Điều 4 của UCP 600 ghi: “Về bản chất, tín dụng là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở của tín dụng.
Các ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, ngay cả khi tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó”.[13] Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo quyền lợi cho cả bên mua và bên bán vì trong phương thức này, ngân hàng không chỉ là trung gian thu hộ, trả hộ mà còn là chủ thể đứng ra bảo đảm cho bên xuất khẩu nhận được số tiền tương ứng với hàng hoá mà họ cung cấp; đồng thời, bảo đảm cho bên nhập khẩu nhận được hàng hoá tương ứng với số tiền mà họ phải chi trả. Phân loại thư tín dụng Trên thực tế trong thanh toán quốc tế có rất nhiều loại thư tín dụng, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể để lựa chọn loại thư tín dụng cho phù hợp. *Phân theo loại hình: - L/C không thể huỷ ngang (irrevocable L/C): là loại L/C sau khi đã được ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó nếu chưa có sự thoả thuận của các bên tham gia. Sử dụng thư tín dụng này đảm bảo quyền lợi cho các bên nên được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong thanh toán.
- L/C có thể huỷ ngang (revocable L/C): là loại L/C có thể bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho người hưởng lợi. Loại này chứa đựng nhiều rủi ro đối với nhà xuất khẩu. Vì vậy mà L/C này hầu như không được sử dụng, nó chỉ được sử dụng trong trường hợp: việc giao hàng giữa công ty mẹ và công ty con, hoặc quan hệ tín dụng giữa hai bên rất tốt. *Phân theo thời gian thanh toán: - L/C trả ngay (L/C payable by Draft at sight): là loại L/C không thể huỷ ngang và phải thanh toán ngay khi hối phiếu được xuất trình.
- L/C trả chậm (L/C available by deffered payment): là loại L/C trong đó ngân Luan van 9 hàng phát hành cam kết thanh toán cho người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng một số ngày sau khi bộ chứng từ hoàn hảo được xuất trình hoặc sau khi giao hàng. *Phân loại theo phương thức sử dụng: - L/C tuần hoàn (Revolving L/C): là loại L/C không thể huỷ ngang mà sau khi sử dụng xong hoặc sau khi hết hạn hiệu lực L/C thì nó tự động có giá trị như cũ mà không cần mở L/C mới, cho đến khi hoàn tất giá trị hợp đồng. Loại L/C tuần hoàn thường được sử dụng trong trường hợp hai bên có quan hệ mua bán thường xuyên, quen biết có uy tín với nhau, khối lượng hàng hoá chia làm nhiều lần. Nhà nhập khẩu sẽ không bị ứ đọng vốn, tiết kiểm được chi phí và thời gian mở L/C.
Còn nhà xuất khẩu có thể nhanh chóng nhận được tiền hàng sau khi giao hàng. - L/C chuyển nhượng (Transferable letter of credit): là loại L/C không huỷ ngang trong đó cho phép người hưởng lợi (nhà xuất khẩu là người hưởng lợi đầu tiên) yêu cầu ngân hàng thanh toán chuyển nhượng một phần hay toàn bộ giá trị L/C cho một hay nhiều người (người hưởng lợi thứ hai). Mỗi L/C chỉ được chuyển nhưởng một lần và chi phí phát sinh liên quan trong viêc chuyển nhượng do người hưởng lợi đầu tiên trả. L/C chuyển nhượng được sử dụng trong trường hợp mua bán trung gian cung cấp hàng hoá cho nhà nhập khẩu.
Trong nghiệp vụ L/C chuyển nhượng thì người thụ hưởng thứ hai chịu nhiều rủi ro hơn cả. Vì họ chỉ nhận được tiền khi người hưởng lợi thứ nhất được người mua thanh toán. - L/C với điều khoản đỏ (Red clause document credit): là loại L/C trong đó có một điều khoản ghi rõ điều khoản đặc biệt ngân hàng phát hành sẽ chuyển tiền hoặc uỷ quyền cho ngân hàng thông báo (ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết khẩu) để thực hiện ứng trước cho người hưởng một số tiền nhất định trước khi giao hàng, thông thường số tiền ứng trước tính theo phần trăm so với giá trị L/C. - L/C giáp lưng (Back to back L/C): là loại L/C được mở trên cơ sở L/C mà nhà nhập khẩu đã mở cho nhà xuất khẩu hưởng (được gọi là L/C gốc), để thanh toán tiền hàng cho nhà cung cấp, nhà xuất khẩu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình mở L/C cho nhà cung cấp hưởng với nội dung gần giống nhau, L/C mở sau này được gọi là L/C giáp lưng.
L/C giáp lưng được áp dụng trong trường hợp là mua bán Luan van 10 trung gian, giống như L/C chuyển nhượng. Nhưng khác với L/C chuyển nhượng, L/C gốc và L/C giáp lưng hoàn toàn độc lập với nhau, ngân hàng phát hành L/C giáp lưng hoàn toàn chịu trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ hợp lệ của L/C giáp lưng. Vì vậy, người cung cấp hàng hoá (người hưởng lợi L/C giáp lưng) có thể yên tâm về mặt thanh toán. - L/C dự phòng (Standby L/C): là loại L/C được mở nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu nhận được L/C, nhưng lại không có khả năng giao hàng.
Ngân hàng mở cam kết với nhà nhập khẩu sẽ được thanh toán lại cho họ trong trường hợp nhà xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và bồi thường các khoản thiệt hại do mình gây cho nhà nhập khẩu, nếu như nhà nhập khẩu ứng trước tiền hàng, tốn phí chi phí mở L/C …[8] 1. Nội dung của thư tín dụng Khi nhà nhập khẩu và xuất khẩu ký hợp đồng ngoại thương, trong đó quy định sẽ thanh toán theo điều khoản của L/C, sau đó nhà nhập khẩu phải yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C. Những nội dung cơ bản của L/C thường bao gồm những nội dung sau: - Số hiệu L/C: Mỗi L/C đều phải có số hiệu riêng, nhằm thuận lợi cho việc trao đổi thư từ, điện tín, và để thuận lợi trong việc ghi vào những giấy tờ có liên quan. - Địa điểm mở L/C: Là nơi Ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người xuất khẩu.
Nó có ý nghĩa trong việc lựa chọn luật áp dụng khi xảy ra trạnh chấp trong thanh toán L/C. - Ngày phát hành L/C: Là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C, phát sinh sự cam kết của NHPH với người thụ hưởng và phát sinh trách nhiệm không hủy ngang của nhà NK trong việc hoàn trả cho NHPH thanh toán L/C. - Tên địa chỉ các bên tham gia: Bao gồm các thương nhân, các ngân hàng và các cơ quan tổ chức. Trong đó các thương nhân bao gồm người yêu cầu, người thụ hưởng (hoặc là người thụ hưởng thứ nhất và người thụ hưởng thứ hai nếu là L/C chuyển nhượng).
Các ngân hàng bao gồm : NHPH, NHTB, ngân hàng được chỉ định….Các cơ quan, tổ chức : Là những người cấp các chứng từ liên quan như Bộ Luan van 11 Công thương, phòng Thương mại và công nghiệp, Cơ quan hải quan, người chuyên chở, công ty bảo hiểm. - Số tiền, loại tiền, khối lượng và đơn giá của thư tín dụng: Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số, vừa được ghi bằng chữ và phải thống nhất với nhau. Nếu số tiền bằng số và bằng chữ khác nhau thì người thụ hưởng phải làm thủ tục tiến hành sửa đổi L/C. Bên cạnh số tiền, trong L/C, đơn vị tiền tệ cũng phải rõ ràng, để tránh nhầm lẫn, khi viết đơn vị tiền tệ nên tham chiếu tiêu chuẩn ISO về ký hiệu tiền tệ.
- Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng, địa điểm xuất trình ghi trong thư tín dụng: Thời hạn hiệu lực là thời hạn ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu người này xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó. Thời hạn trả tiền chỉ việc trả tiền ngay hay trả tiền sau. Do vậy thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu trả tiền ngay hoặc nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C nếu trả tiền có kỳ hạn.