Chương 1: Giới thiệu đề tài: nêu rõ tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài, các mục tiêu cần giải quyết, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Khung lý thuyết, thực trạng tại Việt Nam, tổng quan các nghiên cứu trước đây và phát triển giả thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: nêu rõ cách lấy dữ liệu, mô hình thống kê được lựa chọn, dự đoán kết quả. Chương 4: Kết quả hồi quy đạt được, kiểm định kết quả, phân tích và giải thích ý nghĩa.
Chương 5: Kết luận các kết quả chính tìm thấy ở bài nghiên cứu, trình bày những khuyến nghị, hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu mới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT, THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT 2. Khung lý thuyết về thanh khoản và rủi ro thanh khoản 2.
Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa thanh khoản là khả năng của một tổ chức thực hiện các nghĩa vụ thanh toán kịp thời (Drehmann, 2009). Năm 2013, Drehmann định nghĩa chi tiết hơn, thanh khoản là khả năng giải quyết các nghĩa vụ nợ ngay lập tức và rủi ro thanh khoản là khả năng mà nếu vượt qua ngưỡng đó, ngân hàng trở nên không thể thanh toán các nghĩa vụ nợ kịp thời. Thanh khoản ngân hàng được xác định bằng khả năng thanh toán tất cả các chi phí dự kiến như sự rút tiền gửi của khách hàng, thanh toán nợ đến hạn bằng tài sản thanh khoản. Tài sản thanh khoản là tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền mặt mà không gặp bất kỳ trở ngại nào (Melese, 2015).
Borio (2000), Brunnermeier và Pedersen (2007) và Strahan (2008) (trong Drehmann và Nikolaou, 2009) định nghĩa “thanh khoản là khả năng gia tăng tiền mặt trong ngắn hạn bằng việc bán bớt tài sản hoặc đi vay”. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng thanh khoản có liên quan chặt chẽ đến tiền gửi. Tiền gửi giúp các ngân hàng chống lại tình trạng bị rút tiền ồ ạt (bank run) và những ngân hàng với tiền gửi nhiều hơn sẽ ít rủi ro thanh khoản hơn, khi ấy kỷ luật thị trường đối với ngân hàng cũng giảm, làm tăng hành vi tìm kiếm rủi ro. Hơn nữa, bảo hiểm tiền gửi tạo ra rủi ro đạo đức vì các ngân hàng sẽ tăng cường các hành vi tìm kiếm rủi ro khi có nhiều tiền gửi hơn tại mức chi phí của bảo hiểm tiền gửi (Keeley, 1990).
Bordo và cộng sự (2001) cho rằng khi nền kinh tế bị suy thoái, thu nhập được kỳ vọng sẽ giảm, người đi vay sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ. Trong khi đó, người gửi tiền sẽ cố gắng bảo vệ tài sản của họ bằng cách rút tiền gửi trong ngân hàng vì dự đoán ngân hàng sẽ giảm hiệu quả từ các khoản cho vay. Do đó, ngân hàng không thể cân đối giữa tài sản không thanh khoản (khoản cho vay) và nợ phải trả thanh khoản (khoản tiền gửi) và trở nên dễ mất thanh khoản. Vì vậy, Ủy ban giám LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 sát ngân hàng Basel (trong Drehmann và Nikolaou, 2009) xem xét khái niệm thanh khoản bao gồm cả khái niệm rủi ro thanh khoản.
Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không đủ nguồn để thanh toán các nghĩa vụ nợ đến hạn. Nguyên nhân trực tiếp phổ biến nhất trong lịch sử ngành ngân hàng liên quan đến rủi ro thanh khoản là sự đổ xô đi rút tiền của người dân. Sự thiếu hụt nguồn tiền mặt sẵn có cũng như tài sản thanh khoản cao khiến các ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu rút tiền tăng lên đột. Khi các ngân hàng bị mất cân đối vì huy động quá nhiều từ nguồn tiền ngắn hạn và giải ngân cho các khoản vay dài hạn thì khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản sẽ cao hơn.
Cầu thanh khoản và cung thanh khoản và 2.1 Cung thanh khoản Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm: - Các khoản tiền gửi sẽ nhận được (S1) - Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ (S2) - Các khoản tín dụng sẽ thu về (S3) - Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4) - Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5) 2.2 Cầu thanh khoản Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng. Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu thanh khoản bao gồm: - Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1) - Đề nghị vay vốn của khách hàng (D2) - Thanh toán các khoản phải trả khác (D3) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng (D4) - Thanh toán cổ tức cho cổ đông (D5) 2.3 Trạng thái thanh khoản Ở bất cứ thời điểm nào, các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùng lúc và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng và có thể được tính như sau: NLPt = Net Liquidity Position = (S1+S2+S3+S4+S5) - (D1+D2+D3+D4+D5) Ở đây xảy ra một trong hai trường hợp: NLPt > 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thặng dư thanh khoản (liquidity surplus). NLPt < 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thâm hụt thanh khoản (liquidity deficit). Các đại diện cho rủi ro thanh khoản và rủi ro ngân hàng 2.
Đại diện cho rủi ro thanh khoản Thông tư 08/2017/TT- NHNN ngày 01/12/2017 của NHNN định nghĩa: “Rủi ro thanh khoản là rủi ro do: - Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc - Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó.” Luận văn liên hệ việc không thể thực hiện các khoản nợ khi đến hạn bởi lẽ các tổ chức tín dụng thiếu các loại tài sản dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt. Acharya và Naqvi (2012) dự đoán rằng những ngân hàng có rủi ro thanh khoản thấp hơn, được đo lường bởi tiền gửi cao hơn, sẽ tìm kiếm nhiều rủi ro hơn. Các tác giả cho rằng tiền gửi là một đại diện cho rủi ro thanh khoản bởi vì tiền gửi có thể là tấm chắn cho ngân hàng khỏi rủi ro vỡ nợ. Ngân hàng cần duy trì một tỷ lệ tiền gửi nhất định như là dự trữ thanh khoản để chống lại các cú sốc có thể xảy ra trong ngắn hạn.
Tiền gửi được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sử dụng như một biến đo lường rủi ro thanh khoản bởi vì sự phụ thuộc vào tiền gửi ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn sẽ làm cho các ngân hàng dễ bị tổn thương hơn khi lượng tiền gửi trong ngắn hạn sụt giảm. Tiền gửi được ký thác, bảo hiểm tiền gửi giống như quyền chọn bán đối với tài sản ngân hàng. Do có bảo hiểm tiền gửi, các ngân hàng tìm kiếm nhiều rủi ro hơn khi tiền gửi gia tăng. Khan và cộng sự (2016) cũng dùng tỷ số giữa tổng tiền gửi và tổng tài sản làm đại diện cho rủi ro thanh khoản ngân hàng và giải thích rằng, ngân hàng có tiền gửi cao hơn nghĩa là ngân hàng đó có rủi ro thanh khoản thấp hơn.
Đại diện cho rủi ro ngân hàng: Z-core Nhiều nghiên cứu trước đây dùng Z-score để đo lường mức độ rủi ro cho ngân hàng (Laeven và Levine, 2009; Delis và cộng sự, 2014; Khan và cộng sự, 2016). Z- score bằng tổng của ROA cộng tỷ số Equity và Asset chia cho độ lệch chuẩn của ROA. Z-score dùng để đo khoảng cách đến mất khả năng thanh toán (Laeven và Levine, 2009). Z-score được tính như sau: 𝑬𝒒𝒖𝒊𝒕𝒚 𝑹𝑶𝑨 + 𝑨𝒔𝒔𝒆𝒕 𝒁 − 𝒔𝒄𝒐𝒓𝒆 = (3) Độ 𝒍ệ𝒄𝒉 𝒄𝒉𝒖ẩ𝒏 𝒄ủ𝒂 𝑹𝑶𝑨 Ý tưởng cơ bản của việc sử dụng Z-score được dựa trên mối quan hệ giữa mức vốn và độ biến động tỷ suất sinh lợi của ngân hàng để khi nhìn vào đó, chúng ta có thể biết được có bao nhiêu sự thay đổi trong lợi nhuận có thể được hấp thụ bởi vốn ngân hàng mà ngân hàng không rơi vào tình trạng vỡ nợ (Li và cộng sự, 2017).
Độ lệch chuẩn của ROA đại diện cho sự thay đổi trong tỷ suất sinh lợi, trong khi tử số bằng ROA cộng tỷ lệ vốn chủ sở hữu chia tổng tài sản. Bởi vì ngân hàng được cho là vỡ nợ khi ngân hàng bị mất vốn, do đó, khả năng này tương đương với xác suất khi ROA < - (Equity/Asset), hay tử số nhỏ hơn 0. Z-score càng gần 0 chứng tỏ ngân hàng càng gần khả năng phá sản, nghĩa là rủi ro của ngân hàng sẽ cao hơn. Zcore càng thấp thì rủi ro càng tăng.
Từ công thức Z-score, có thể thấy rằng khi giá trị Z-score tăng, có thể là do ROA tăng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu chia tổng tài sản tăng hoặc độ lệch chuẩn của ROA giảm. Giả sử khi vốn của ngân hàng giảm xuống 0, ngân hàng bị mất khả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 năng thanh khoản, khi đó giá trị Z-score sẽ giảm. Giá trị Z-score thấp hơn thể hiện ngân hàng rủi ro hơn, và Z-score càng cao thể hiện ngân hàng càng ổn định. Đại diện cho rủi ro ngân hàng: Hệ số tạo thanh khoản (LC) Berger và Bouwman (2009) giới thiệu phương pháp tính hệ số tạo thanh khoản (Liquidity creation), rất hiệu quả trong việc đo lường mức độ ngân hàng tài trợ cho tài sản kém thanh khoản bằng khoản nợ phải trả thanh khoản.
Ngân hàng đối diện với rủi ro trung gian tài chính bởi vì chức năng đặc biệt của nó trong nền kinh tế là chu chuyển vốn, do đó ít khi nào ngân hàng có khoản tiền gửi và khoản cho vay đáo hạn cùng lúc. Vì vậy, hệ số tạo thanh khoản càng cao thì ngân hàng càng có nhiều rủi ro trung gian tài chính. Hệ số này cũng được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về rủi ro thanh khoản (Berger và Bouwman, 2009; Khan và cộng sự, 2016). Drechsler (2018) cho rằng hệ số tạo thanh khoản tạo ra nhiều biến động rủi ro và có thể gây ra tổn thất cho định chế tài chính.
Hệ số tạo thanh khoản LC được tính theo công thức sau: Liquidity Creation = 0.5×Tài sản không thanh khoản + 0.5×Nợ phải trả thanh khoản - 0.5×Tài sản thanh khoản - 0.5×Nợ phải trả không thanh khoản - 0.5×Vốn chủ sở hữu (4) 2.