Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu thẩm định an toàn giao thông đường bộ Chương 2: An toàn giao thông đường bộ Chương 3: Đề xuất một số giải pháp khắc phục những điểm mất an toàn giao thông cho dự án xây dựng đường huyện 173, tỉnh Bến Tre. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU THẨM ĐỊNH AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Các lý thuyết về an toàn giao thông đường bộ [6] An toàn giao thông trên đường bộ là một hệ thống Đường – Xe cộ - Người lái dưới sự tác động của quá trình xây dựng đường, luật lệ giao thông, điều kiện thời tiết và mức độ an toàn của các phương tiện giao thông. Một con đường trong quá trình khai thác sử dụng, cùng với hệ thống trang thiết bị giao thông tương ứng sẽ luôn tồn tại hai thành phần: Thành phần thứ nhất là: Rủi ro tai nạn cơ bản (còn gọi là: rủi ro không có có khả năng tránh).
Thành phần thứ hai là: Tiềm năng an toàn (được gọi là: mật độ chi phí tai nạn có khả năng tránh được). Tỉ lệ giữa hai thành phần này phản ánh mức độ “Giao thông – không – an toàn” trên mạng lưới đường. Giao thông – không – an toàn (Nguồn: PGS. Bùi Xuân Cậy, PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, TS.
Nguyễn Hữu Dũng (2011), Bài giảng cao học, Trường Đại học GTVT) 1. Tai nạn giao thông trên thế giới [14] Tai nạn giao thông đường bộ (TNGT ĐB) nghiêm trọng đến mức Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết A/RES/64/255 ngày 02/3/2010 tuyên bố giai đoạn 2011- 2020 là “Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ”. TNGT ĐB 4 là nguyên nhân gây ra cái chết khoảng 1,3 triệu người và 50 triệu người bị thương trên thế giới mỗi năm. Có trên 90% tai nạn xảy ra ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, nơi chỉ có 48% phương tiện giao thông trên thế giới.
Theo WHO (2009), Myanma có tỷ lệ người chết do TNGT tương đối cao: 15,67 người/10.000 phương tiện, Việt Nam là 5,36 người/10.000 phương tiện, tỷ lệ này thấp ở Nhật: 0,73 người/10.000 phương tiện. Năm 2011 tỷ lệ số người chết do TNGT ở Việt Nam giảm còn 2,94 người/10.000 phương tiện (Hình 1. Tỷ lệ người tử vong do TNGT trên 10.000 phương tiện (Nguồn STINFO Số 8/2012) Hình 1. Tỷ lệ người tử vong do TNGT trên 100.000 dân ở các nước (Nguồn STINFO Số 8/2012) 5 Dân Mỹ sở hữu nhiều phương tiện giao thông nhất, đa số là ôtô, có đến 797 chiếc/1.000 người, Thái Lan: 148 chiếc/1.000 người, Lào: 23 chiếc/1.000 người và Việt Nam chỉ có 21 chiếc/1.000 người, nhưng lại là một trong những nước có nhiều xe gắn máy: 387,28 chiếc/1.000 người, nhưng vẫn còn thấp hơn Đài Loan là 532 chiếc/1.000 người (Hình 1.
So sánh mật độ ôtô trên 1.000 người (Nguồn STINFO Số 8/2012) Hình 1. So sánh mật độ xe mô tô, gắn máy trên 1.000 người (Nguồn STINFO Số 8/2012) 6 Hàn Quốc là một trong những nước có hạ tầng giao thông khá tốt ở châu Á. So sánh đường quốc lộ, Việt Nam còn rất khiêm tốn, mật độ chỉ có 0,05km/km2 và 0,2 km/1.000 dân, trong khi Thái Lan là 0,11km/km2 và 0,9 km/1. So sánh mật độ quốc lộ (Nguồn STINFO Số 8/2012) Các nước đều có những quy định khi điều khiển xe trên đường như giới hạn tốc độ, bắt buộc đội nón bảo hiểm, thắt dây an toàn khi lái xe, không điều khiển xe khi uống rượu, v.v… Theo Tổ chức Y tế Thế giới - WHO, có 40% các quốc gia bắt buộc đội mũ bảo hiểm, 57% các quốc gia bắt buộc thắt dây an toàn khi điều khiển xe.
Còn về giới hạn tốc độ xe, có 62% các quốc gia giới hạn bằng hoặc dưới 50km/giờ trong đô thị, chỉ có 2% cho phép tốc độ xe lưu thông trong đô thị lớn hơn 90km/giờ, như: Iraq, Lebanon, Quatar, riêng Oman cho phép lưu thông trong đô thị đến 120km/giờ. Mức độ tuân thủ thắt dây an toàn khi điều khiển xe ở các nước (Nguồn STINFO Số 8/2012) Hình 1. Mức độ tuân thủ đội nón bảo hiểm ở các nước (Nguồn STINFO Số 8/2012) Hình 1. Giới hạn tốc độ xe lưu thông trong đô thị tại các nước (Nguồn STINFO Số 8/2012) 8 1.
Tai nạn giao thông ở Việt Nam [14] Ở Việt Nam, tai nạn giao thông (TNGT) hầu hết là tai nạn giao thông đường bộ (TNGT ĐB). Năm 2011, TNGT ĐB chiếm 94,22% (có trên 30 ngàn vụ va chạm và trên 10 ngàn vụ TNGT làm chết 10.979 và bị thương 10.049 người), đứng thứ hai là đường sắt: 4,04%, kế đến là đường thủy (Hình 1. TNGT theo loại hình giao thông năm 2011 (Nguồn: STINFO Số 8/2012) Một ngày trôi qua, Việt Nam có khoảng 30 - 35 người tử vong vì TNGT ĐB. TNGT ĐB tăng cao trong giai đoạn 2000-2002 và có xu hướng giảm từ năm 2003 đến nay.
Dù số vụ TNGT ĐB có giảm, nhưng số người chết gần như không giảm, cho thấy mức độ TNGT ĐB ngày càng thảm khốc hơn (Hình 1. Tỷ lệ người chết trên một vụ TNGT ĐB ở Việt Nam so với các nước trong khu vực cao hơn rất nhiều; năm 2011 tỷ lệ này của Việt Nam là 0,83, Thái Lan: 0,17, Malaysia: 0,02. Xét theo khu vực, TNGT ĐB phần lớn xảy ra ở phía Nam, khoảng trên 40% số vụ TNGT trên cả nước, nhiều nhất là ở Long An, Bình Định và Tây Ninh, theo thống kê 10 tháng đầu năm 2011 (Hình 1. Thế nhưng tỷ lệ về số người chết do TNGT ĐB cao nhất lại ở Tây Nguyên: 4,42 người/trên 10 ngàn phương tiện, trung bình tỷ lệ này của cả nước là 3,84, vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Nam bộ thấp, tương ứng là 1,8 và 2,4 mặc dù đây là hai vùng có số lượng phương tiện lưu thông tập trung cao.
So với cùng kỳ 2011, 6 tháng đầu năm 2012 giảm 21,63% số vụ TNGT ĐB, nhưng một số tỉnh thành có số người chết 9 do TNGT tăng cao bất thường như Đồng Nai tăng 37,6%, Bạc Liêu tăng 35,3%, Lai Châu tăng 23,1%. So sánh tình hình TNGT năm 2001 và 2011 (Nguồn: STINFO Số 8/2012) Hình 1. 10 tỉnh có tỷ lệ số vụ TNGT cao nhất, 2011 (Nguồn STINFO Số 8/2012) Hình 1. TNGT theo vùng, 2011 (Nguồn: STINFO Số 8/2012) Phương tiện giao thông phát triển quá nhanh so với phát triển hạ tầng giao thông là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến TNGT.
Số phương tiện năm 2011 tăng gấp 24,6 lần năm 1990. Lượng xe gắn máy hai bánh tăng dữ dội, năm 1990 cả nước có hơn 1 triệu chiếc và gần 500 ngàn chiếc ôtô, năm 2011 lên đến hơn 30 triệu chiếc và gần 2 triệu chiếc ôtô. Tính số xe hai bánh theo đẩu người, năm 2007 bình quân 3,75 người sở hữu 1 xe, năm 2009 là 2,86 người/1 xe 11 và đến 2011 là 2,59 người/xe. Phương tiện giao thông đô thị không có gì ngoài hệ thống xe buýt trên đường phố đông đúc, nên phương tiện cá nhân phát triển là tất yếu.
Theo phân tích TNGT của Cục Cảnh sát Giao thông Đường bộ - Đường sắt cho thấy TNGT năm 2011 chủ yếu từ xe môtô, xe hai bánh, chiếm đến 69,38% và ôtô là 22,29% (Hình 1.14), tỷ lệ này không thay đổi nhiều trong vòng 5 năm trở lại đây. Không có gì ngạc nhiên bởi dân ta hầu hết đều di chuyển bằng xe hai bánh. TNGT theo phương tiện, 2007-2011 (Nguồn: STINFO Số 8/2012) Bảng 1. Tăng trưởng số lượng xe, 2000-2011 (Nguồn: STINFO Số 8/2012) 12 Mạng lưới giao thông đường bộ có tổng chiều dài 280.
Mật độ đường còn thấp và chất lượng chưa cao, đường cấp xã chiếm đến 57,36%. Về chất lượng quốc lộ, đường tốt chỉ có 42,58%, trung bình là 37,04%, xấu và rất xấu đến 20,38%. Còn tính cả quốc lộ và tỉnh lộ thì mặt đường bêtông nhựa chiếm 32,17%, bêtông xi măng: 1,66%, đá nhựa: 44,38%, đá dăm cấp phối: 21,79%. về đường cao tốc đã được Chính phủ phê duyệt năm 2008 quỵ hoạch hệ thống 22 tuyến với tổng chiều dài 5.873 km, đến nay đã có ba tuyến đưa vào sử dụng, tổng cộng gần 100 km, con số còn khá khiêm tốn so với nhu cầu lưu thông hiện nay.
So sánh tỷ lệ TNGT theo loại đường thì TNGT trên đường đô thị có xu hướng tăng. Năm 2007 TNGT đô thị chiếm 22,28%, đến 2011 tăng lên 34,6% (Hình 1. So về chiều dài, đường đô thị chỉ có 6,08% trong tổng số chiều dài các loại đường. Có thể nól TNGT đô thị đang là vấn đề cấp bách cần quan tâm giải quyết.
TNGT theo loại đường (Nguồn: Cục Cảnh sát Giao thông Đường bộ - Đường sắt) Phân tích các vụ TNGT ĐB trong những năm gần đây, nguyên nhân gây ra chủ yếu là do người điều khiển các phương tiện giao thông. Thống kê từ năm 2009-2011, nguyên nhân gây TNGT nhiều nhất là do ý thức người điều khiển là chính, tỉ lệ 61,78% (2009) và lên đến 79,2% (2011), trong đó, do chạy xe sai làn 13 đường chiếm 26,30% - 31,44%, kế đến là vượt ẩu 12,41 %-19,40%, chạy quá tốc độ 16,21% - 18,34%, lái xe khi say rượu,. Năm 2012 là năm đầu tiên Tp.HCM tổ chức "Năm an toàn giao thông", trước đó, tháng 9 hàng năm được chọn là "Tháng an toàn giao thông" nhằm đẩy mạnh việc giảm ùn tắc và TNGT. Bên cạnh nhiều giải pháp được Nhà nước triển khai, để góp phẩn làm giảm thảm họa TNGT, mỗi người cần tự ý thức bảo vệ mình bằng việc tuân thủ các quy định khi tham gia giao thông.
Số vụ TNGT phân theo nguyên nhân (Nguồn: STINFO Số 8/2012) Riêng tại tỉnh Bến Tre, số liệu TNGT trên toàn tỉnh Bến Tre thể hiện ở trong Bảng 1. Số liệu TNGT đường bộ của toàn tỉnh Bến Tre (Nguồn: Ban ATGT tỉnh Bến Tre) Năm Số vụ Số người chết Số người bị Tỉ lệ thương chết/số vụ 2012 110 119 53 1,08 2013 149 152 73 1,02 2014 191 204 52 1,07 2015 187 192 69 1,03 14 1. Sự cần thiết thẩm định an toàn giao thông đường bộ [10] Xác định được yếu tố tiềm ẩn có thể gây ra tai nạn hoặc có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của tai nạn của dự án hoặc con đường, để đề xuất các biện pháp để xử lý nhằm ngăn chặn tai nạn xảy ra hoặc giảm mức độ nghiêm trọng của tai nạn, góp phần nâng cao an toàn. Theo qui định thì công tác thẩm tra, thẩm định có thể được tiến hành từ ngay giai đoạn lập Báo cáo đầu tư, Lập dự án,… đến khi công trình đưa vào khai thác.
Do vậy, nếu thực hiện tốt sẽ có nhiều cơ hội để có thể xác định được các mối nguy hiểm rồi xử lý nó để có được con đường an toàn hơn ngay cả ở các giai đoạn con đường đó chưa hiện hữu.